![]() |
| Người phụ nữ trang trí sản phẩm heo đất tại một cơ sở thủ công ở Việt Nam. Ảnh minh họa hoạt động nghề nghiệp. Ảnh: Vy Van Bui/Pexels. |
Học một nghề mới có thể kéo theo nhiều khoản chi ngoài học phí, nhất là khi người lao động phải di chuyển đến địa điểm đào tạo và dành thời gian tham gia lớp học thay vì làm công việc thường ngày. Với phụ nữ ở nông thôn, việc biết trước khoản nào được hỗ trợ, khoản nào phải tự chi trả là thông tin cần thiết để cân nhắc lựa chọn khóa học phù hợp.
Ngày 29/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố lấy ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn tổ chức thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động ở khu vực nông thôn và một số nhóm thanh niên. Dự thảo tập trung làm rõ cách xác định học phí thực tế, thời gian học được tính hỗ trợ và chi phí đi lại. Những mức tiền cơ bản đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 338/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, chứ không phải mới được đề xuất trong tháng 9.
Học phí được hỗ trợ tối đa 4 triệu đồng mỗi khóa
Theo Nghị định 338/2025/NĐ-CP, người lao động ở khu vực nông thôn thuộc diện áp dụng được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp hoặc khóa đào tạo dưới ba tháng theo mức học phí thực tế, tối đa 4 triệu đồng cho mỗi người trong một khóa học. Đây là mức trần hỗ trợ chi phí đào tạo, không có nghĩa tất cả người đăng ký đều nhận đủ 4 triệu đồng bằng tiền mặt.
![]() |
| Một phụ nữ thực hiện công đoạn tạo hình sản phẩm gốm tại Việt Nam. Ảnh minh họa hoạt động nghề thủ công. Ảnh: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Dự thảo Thông tư nêu rõ hơn cách xác định khoản chi này. Cơ sở đào tạo phải công khai học phí của từng ngành, nghề và từng khóa học trước khi tuyển sinh, đồng thời có hóa đơn, chứng từ phục vụ thanh toán. Nếu học phí thực tế thấp hơn mức trần, hỗ trợ được tính theo số tiền thực tế. Trường hợp học phí cao hơn, phần chênh lệch do người học hoặc nguồn kinh phí hợp pháp khác chi trả, trừ khi địa phương quyết định mức hỗ trợ cao hơn theo thẩm quyền.
Đối tượng thụ hưởng cũng cần được phân biệt. Chính sách dành cho lao động nông thôn không chỉ áp dụng với phụ nữ mà gồm cả nam giới đủ điều kiện. Nghị định còn có quy định riêng đối với một số nhóm thanh niên theo Luật Việc làm, với cách xác định giới hạn kinh phí khác. Vì vậy, không thể lấy mức hỗ trợ của nhóm thanh niên để thông báo chung cho mọi phụ nữ học nghề ở nông thôn.
Điều 26 của Nghị định 338 quy định người lao động ở khu vực nông thôn được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới ba tháng khi có nhu cầu. Tuy nhiên, việc giải quyết kinh phí còn phải tuân thủ đối tượng, hồ sơ, thủ tục và nguyên tắc không hỗ trợ trùng lặp. Một người đã được hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách khác của Nhà nước nhìn chung không tiếp tục nhận hỗ trợ theo chính sách này, trừ các trường hợp ngoại lệ được nghị định quy định.
Tiền ăn tính theo ngày học, tiền đi lại theo khoảng cách
Bên cạnh học phí, Nghị định 338 quy định hỗ trợ tiền ăn và sinh hoạt phí ở mức 50.000 đồng/người/ngày. Dự thảo Thông tư đang lấy ý kiến đề xuất xác định khoản hỗ trợ theo số ngày thực học trong kế hoạch đào tạo, không tính ngày nghỉ và ngày lễ. Nếu khóa học kéo dài quá thời gian thiết kế của chương trình, số ngày được tính hỗ trợ cũng không vượt quá giới hạn được xác định theo chương trình.
Cách tính này khiến lịch học trở thành thông tin người đăng ký cần tìm hiểu, bên cạnh tên nghề và thời lượng toàn khóa. Hai lớp có cùng thời gian tính theo tháng nhưng số ngày tổ chức học khác nhau không nhất thiết dẫn đến khoản hỗ trợ sinh hoạt giống nhau. Khi dự thảo chưa được ban hành, cách xác định số ngày thực học nêu trong văn bản này vẫn là nội dung đang được lấy ý kiến, không thể giới thiệu như một quy định hướng dẫn mới đã có hiệu lực.
Đối với tiền đi lại, nghị định hiện hành quy định mức 200.000 đồng/người/khóa học nếu nơi ở hiện tại cách địa điểm đào tạo từ 15 km trở lên. Người cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 300.000 đồng/người/khóa học khi khoảng cách đến nơi học từ 5 km trở lên. Đây là mức chi theo khóa học, không phải khoản thanh toán hằng ngày cho mỗi lượt đi và về.
Dự thảo hướng dẫn tiếp tục đề cập việc xác định khoảng cách trên cơ sở nơi cư trú của người lao động và địa điểm tổ chức đào tạo. Với người học, việc biết trước lớp được tổ chức ở đâu và khoảng cách có đáp ứng điều kiện hỗ trợ hay không sẽ giúp tránh hiểu nhầm rằng cứ phải đi học xa nhà là có thể yêu cầu thanh toán toàn bộ chi phí di chuyển.
Muốn nhận hỗ trợ phải chuẩn bị hồ sơ gì?
Nghị định 338 đã quy định trình tự đề nghị hỗ trợ. Người lao động có thể nộp hồ sơ qua Trung tâm Phục vụ hành chính công nơi ở hiện tại bằng các hình thức được phép hoặc thực hiện trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở hiện tại quyết định việc hỗ trợ và thanh toán. Nếu không chấp thuận, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Hồ sơ theo nghị định gồm giấy đề nghị hỗ trợ, chứng chỉ sơ cấp hoặc giấy chứng nhận hoàn thành khóa học và hóa đơn hoặc biên lai thu tiền đào tạo theo quy định. Những trường hợp được tổ chức đào tạo theo hình thức đặt hàng có cách thực hiện riêng, không áp dụng máy móc toàn bộ giấy tờ của phương thức đề nghị hỗ trợ thông thường.
Nguyên tắc chung là người lao động chỉ được hỗ trợ đào tạo nghề một lần theo chính sách này. Riêng lao động nông thôn đã được hỗ trợ nhưng mất việc làm do nguyên nhân khách quan có thể được Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ tiếp để chuyển đổi việc làm, với tổng số lần tối đa theo nghị định là ba lần. Đây là trường hợp phải được xem xét, quyết định chứ không phải quyền nhận thêm hỗ trợ tự động.
Phụ nữ có thực sự tiếp cận được các khoản hỗ trợ?
Chính sách hiện hành áp dụng mức chi theo nhóm đối tượng, khóa học và điều kiện cụ thể, không quy định phụ nữ được nhận mức tiền cao hơn chỉ vì giới tính. Vì vậy, vấn đề bình đẳng giới trong quá trình triển khai cần được nhìn ở khả năng tiếp cận thông tin, lựa chọn nghề, tham gia khóa học và hoàn tất hồ sơ để nhận hỗ trợ.
Dự thảo Thông tư có nội dung khuyến khích tổ chức đào tạo lưu động, đào tạo tại doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc nơi sản xuất phù hợp với điều kiện của người lao động. Đây là hướng tổ chức đáng chú ý, bởi địa điểm và lịch học có liên quan trực tiếp đến khoản đi lại, số ngày tham gia và khả năng sắp xếp công việc của từng người. Tuy nhiên, chưa có căn cứ từ dự thảo để khẳng định những hình thức này sẽ được triển khai rộng rãi hay mang lại mức cải thiện cụ thể cho lao động nữ.
![]() |
| Người phụ nữ thực hiện công đoạn thêu, dệt thủ công tại Việt Nam. Ảnh minh họa nghề nghiệp tại khu vực nông thôn. Ảnh: Vietnam Hidden Light/Pexels. |
Một chi tiết khác nằm ở mẫu báo cáo kết quả thực hiện chính sách kèm dự thảo. Biểu mẫu hiện phân biệt số người được hỗ trợ theo nhóm lao động nông thôn và thanh niên, có các chỉ tiêu về hoàn thành khóa học, việc làm và kinh phí, nhưng chưa bố trí chỉ tiêu riêng cho nữ và nam. Nếu muốn đánh giá kết quả thụ hưởng theo giới, cơ quan quản lý sẽ cần dữ liệu phân tách tương ứng hoặc hình thức theo dõi bổ sung.
Đối với chương trình đào tạo nghề nông thôn, việc đo lường kết quả không chỉ nằm ở số người được tuyển vào học mà còn ở khả năng hoàn thành khóa, tìm việc và sử dụng kỹ năng đã học. Riêng với cơ chế hỗ trợ kinh phí, một lớp thông tin khác cần được theo dõi là người học đã được giải quyết những khoản nào, hồ sơ bị từ chối vì lý do gì và có khác biệt nào giữa lao động nữ với nam hay không. Đây là những vấn đề có thể đặt ra trong quá trình góp ý, kiểm tra và đánh giá thực thi, chưa phải kết luận về bất bình đẳng đã xảy ra.
Dự thảo Thông tư vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn chính thức, người lao động cần căn cứ các quy định hiện hành của Nghị định 338/2025/NĐ-CP và thủ tục được cơ quan có thẩm quyền công bố. Việc hỗ trợ học nghề sẽ có ý nghĩa thiết thực hơn khi người đăng ký biết chính xác điều kiện thụ hưởng, mức chi có thể nhận và cách chuẩn bị hồ sơ ngay từ lúc lựa chọn khóa học.
Ba khoản hỗ trợ theo Nghị định 338/2025/NĐ-CP
1 Học phí: Theo mức thu thực tế, tối đa 4 triệu đồng/người/khóa học đối với lao động ở khu vực nông thôn.
2. Tiền ăn và sinh hoạt phí: 50.000 đồng/người/ngày trong thời gian đào tạo.
3. Tiền đi lại: 200.000 đồng/người/khóa học khi khoảng cách từ nơi ở hiện tại tới nơi đào tạo từ 15 km; hoặc 300.000 đồng/người/khóa học với người cư trú tại địa bàn đặc biệt khó khăn, cách nơi đào tạo từ 5 km.
Các khoản hỗ trợ áp dụng theo đúng đối tượng, điều kiện và quy định hiện hành. Địa phương có thể quyết định mức hỗ trợ cao hơn theo thẩm quyền được Chính phủ quy định.


















Học nghề ở nông thôn, phụ nữ cần được tính cả sau khóa học
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Phụ nữ nông thôn học nghề được hỗ trợ những chi phí nào?
Cơ sở do phụ nữ làm chủ được ưu tiên khi xét hỗ trợ khuyến công
Hộ kinh doanh đổi cách nộp thuế, phụ nữ cần hỗ trợ gì?
Phụ cấp nghề y tế mới và lực lượng điều dưỡng đông nữ
Lương tối thiểu 2027 và nhóm lao động nữ dễ bị trả dưới mức sàn
Bình đẳng giới được tính thế nào khi xét Gia đình văn hóa?