![]() |
| Một phụ nữ người Mông làm nghề thủ công tại Lào Cai. Ảnh minh họa: Kevin Huynh/Pexels. |
Mỗi năm, khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn được đặt trong kế hoạch đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề đến năm 2030. Trong số đó, lao động nữ phải chiếm trên 45%. Đây là một trong những chỉ tiêu cụ thể của Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”, được phê duyệt theo Quyết định 328/QĐ-TTg ngày 24/2/2026.
Con số 45% tạo ra một thước đo khá rõ ở cửa vào: khi địa phương mở lớp, tuyển người học và tổng hợp kết quả, phụ nữ không thể trở thành một nhóm khó nhìn thấy trong tổng số học viên. Tuy nhiên, chương trình còn đặt mục tiêu khác quan trọng không kém là tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 85%. Trong phần mục tiêu của Quyết định 328, chỉ tiêu hơn 85% này được đặt cho lao động sau đào tạo nói chung, không tách một tỷ lệ riêng cho nữ và nam.
Vì vậy, khi chương trình bước vào thực hiện, câu hỏi về bình đẳng giới không nên dừng ở việc một lớp có đủ tỷ lệ học viên nữ hay chưa. Nếu đã có dữ liệu về người vào học, còn cần nhìn tiếp ai hoàn thành khóa học, ai tìm được việc hoặc tiếp tục nghề đang làm, công việc có ổn định hơn không và kết quả giữa nữ với nam có khác nhau hay không.
Hơn 45% người học là nữ mới là điểm bắt đầu
Quyết định 328 đặt đào tạo nghề trong một quá trình chuyển dịch rộng hơn của khu vực nông thôn. Bình quân mỗi năm, khoảng 70% quy mô đào tạo dự kiến dành cho nghề phi nông nghiệp; khoảng 30% cho nghề nông nghiệp và phát triển ngành nghề nông thôn. Mục tiêu chung là hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, đồng thời đào tạo một bộ phận lao động nông thôn chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Cách phân bổ này cũng có nghĩa học nghề không đồng nhất với việc rời bỏ nông nghiệp. Một người có thể cần kỹ năng mới để tiếp tục sản xuất nông nghiệp với năng suất và giá trị cao hơn; người khác có thể muốn chuyển sang chế biến, dịch vụ, nghề thủ công hoặc một công việc ngoài nông nghiệp. Chính chương trình yêu cầu điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu thị trường lao động, nhu cầu học nghề, việc làm; danh mục nghề đào tạo phải phù hợp với nhu cầu thị trường và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng nơi.
Đây là khâu đặc biệt cần thiết với phụ nữ. Sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 4 triệu người làm công việc tự sản, tự tiêu; nữ giới chiếm 65,8% và người ở khu vực nông thôn chiếm 89,6%. “Tự sản, tự tiêu” ở đây là sản xuất sản phẩm chủ yếu để cá nhân hoặc gia đình sử dụng, không đồng nghĩa với một công việc làm công hưởng lương trên thị trường.
Hai tỷ lệ 65,8% và trên 45% tuyệt đối không thể đem đối chiếu trực tiếp để kết luận chỉ tiêu nữ học nghề là cao hay thấp. Một bên là cơ cấu giới của một nhóm lao động cụ thể, một bên là tỷ lệ nữ trong số người được đào tạo nghề; mẫu số hoàn toàn khác nhau. Không phải mọi phụ nữ đang tự sản, tự tiêu đều có nhu cầu chuyển nghề, cũng không thể mặc định họ đều cần cùng một loại đào tạo.
Nhưng con số 65,8% cho thấy khi địa phương khảo sát nhu cầu học nghề, nhóm phụ nữ đang làm các công việc chủ yếu phục vụ hộ gia đình là một bộ phận cần được nhìn thấy. Họ muốn tiếp tục nghề hiện tại hay tìm việc khác, cần học kỹ thuật sản xuất, chế biến, kinh doanh, kỹ năng số hay một nghề phi nông nghiệp phải được trả lời bằng khảo sát thực tế, thay vì lựa chọn khóa học thay cho họ.
Cách tiếp cận này cũng giúp phân biệt chương trình mới với chính sách khuyến nông ưu tiên phụ nữ tiếp cận đào tạo, tập huấn. Nghị định về khuyến nông tập trung vào tri thức, kỹ thuật và hoạt động khuyến nông; Quyết định 328 có phạm vi nghề nghiệp rộng hơn, bao gồm cả đào tạo chuyển đổi nghề và kết nối với thị trường lao động.
![]() |
| Một phụ nữ làm nghề dệt lụa tại Tân Châu, An Giang. Ảnh minh họa: Văn Long Bùi/Pexels. |
Sau lớp học phải nhìn được đường đi của người học
Chương trình không chỉ yêu cầu tổ chức lớp. Quyết định 328 nêu việc đào tạo phải theo yêu cầu thị trường lao động; cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tăng liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị dịch vụ việc làm. Doanh nghiệp, hợp tác xã được huy động tham gia xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và tuyển dụng sau đào tạo. Hình thức học cũng có thể linh hoạt như vừa làm vừa học, đào tạo từ xa hoặc tự học có hướng dẫn.
Những quy định đó quan trọng bởi cùng được ghi tên vào một lớp học không có nghĩa mọi người có khả năng theo học giống nhau. Thời gian học, khoảng cách tới nơi đào tạo, lịch mùa vụ, công việc tạo thu nhập và việc chăm sóc trong gia đình có thể ảnh hưởng tới quyết định tham gia hoặc bỏ dở. Với nữ và nam ở từng địa bàn, mức ảnh hưởng phải được đo bằng dữ liệu, không nên suy ra trước rằng phụ nữ luôn gặp cùng một loại trở ngại.
Sau đào tạo cũng vậy. Một chỉ tiêu chung “trên 85% có việc làm” cho biết hiệu quả tổng thể của chương trình, nhưng nếu chỉ báo cáo một con số chung, sẽ khó biết kết quả ấy được phân bố như thế nào. Ví dụ, nữ và nam có cùng tỷ lệ hoàn thành khóa học hay không; cùng tỷ lệ có việc sau học hay không; phụ nữ tập trung vào một số nghề nhất định hay đã bước sang những nhóm nghề mới; người học quay lại nghề cũ với kỹ năng cao hơn hay chuyển sang việc làm khác.
Điều này càng đáng theo dõi khi các chính sách nông thôn giai đoạn 2026–2030 đang đặt thêm những mục tiêu về sự tham gia kinh tế của phụ nữ. Bộ tiêu chí nông thôn mới mới yêu cầu phụ nữ chiếm ít nhất 40% số người tham gia các mô hình phát triển kinh tế ở nông thôn. Phụ nữ tham gia các mô hình kinh tế nông thôn vì vậy có thể được nhìn cùng với năng lực nghề nghiệp, thay vì coi “được đào tạo” và “tham gia kinh tế” là hai kết quả tách rời.
Một lớp nghề cũng chưa chắc dẫn thẳng tới một việc làm tốt hơn. Khả năng bước vào việc làm xanh của phụ nữ từng cho thấy đào tạo kỹ năng chỉ là một mắt xích trong quá trình chuyển việc; cơ hội nghề nghiệp còn phụ thuộc vào loại việc làm, yêu cầu kỹ năng và khả năng tiếp cận thị trường lao động. Bài nghiên cứu được PNM phân tích sử dụng dữ liệu 2021–2022, vì vậy không thể dùng để mô tả thị trường năm 2026, nhưng nó cho thấy vì sao cần theo dõi đường đi sau đào tạo thay vì chỉ đếm số người đã học.
![]() |
| Một phụ nữ vận chuyển nông sản tại vùng nông thôn Việt Nam. Ảnh minh họa: Pew Nguyen/Pexels. |
Quyết định 328 đã dành một phần riêng cho kiểm tra, giám sát và đánh giá. Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá; các địa phương phải theo dõi và báo cáo định kỳ. Văn bản hiện chưa cho biết bộ chỉ số sắp xây dựng sẽ phân tách tất cả kết quả sau đào tạo theo giới tới mức nào. Vì vậy, đây là điểm đáng theo dõi trong quá trình triển khai, chứ chưa thể kết luận chương trình thiếu cơ chế đánh giá giới.
Một hệ thống theo dõi hữu ích có thể bắt đầu từ những dữ liệu rất cụ thể: số nữ và nam đăng ký, nhập học, hoàn thành; ngành nghề được học; tình trạng việc làm sau khóa học; loại công việc; thời gian duy trì việc làm. Nếu có thể theo dõi thêm thay đổi thu nhập và lý do không tiếp tục nghề, địa phương sẽ biết khóa học nào thực sự phù hợp thay vì chỉ biết đã tổ chức được bao nhiêu lớp.
Mục tiêu hơn 45% lao động nữ trong số người được đào tạo tạo ra một cánh cửa có thể đo được. Phần khó hơn nằm sau cánh cửa ấy. Đến năm 2030, giá trị của chỉ tiêu không chỉ thể hiện ở danh sách học viên có đủ phụ nữ, mà còn ở việc dữ liệu thực thi trả lời được họ đã dùng kỹ năng mới vào công việc nào và kết quả sau đào tạo ra sao.





















Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Nông thôn mới nâng ngưỡng phụ nữ tham gia mô hình kinh tế
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Có Internet chưa đủ để phụ nữ tăng thu nhập
Cùng chuyên mục
Học nghề ở nông thôn, phụ nữ cần được tính cả sau khóa học
Điểm ưu tiên tuyển công chức nhìn từ cơ hội của nữ và nam
Học viên nữ được ưu tiên trong đào tạo lãnh đạo doanh nghiệp
Từ 2/10, hỗ trợ nạn nhân mua bán người sát nhu cầu hơn
Sửa Luật Đất đai đang rà tác động tới phụ nữ và nam giới
Người giúp việc gia đình cũng cần được bảo vệ bằng luật