![]() |
| Hai phụ nữ dân tộc Dao cùng sử dụng điện thoại thông minh tại Việt Nam. Kết nối số chỉ phát huy giá trị kinh tế khi đi kèm kỹ năng và cơ hội phù hợp. Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Một đường truyền Internet không tự tạo ra thu nhập. Giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi kết nối ấy giúp người phụ nữ tìm được việc, học thêm kỹ năng, tiếp cận khách hàng, bán sản phẩm hoặc nhận được thông tin cần thiết để đưa ra quyết định tốt hơn.
Đây cũng là điểm đáng chú ý trong nghiên cứu về kết nối số và thu nhập hộ gia đình tại Việt Nam, được Ngân hàng Phát triển châu Á công bố tháng 5/2026. Kết quả cho thấy lợi ích từ kết nối số không phân bổ đồng đều giữa mọi gia đình. Nhóm hộ có chủ hộ là phụ nữ, đặc biệt tại nông thôn hoặc thuộc nhóm thu nhập thấp, có thể nhận được tác động tích cực rõ hơn.
Phát hiện này đem lại một góc nhìn lạc quan về vai trò của công nghệ đối với bình đẳng giới. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đặt ra yêu cầu phải nhìn xa hơn số lượng thuê bao, điện thoại thông minh hay điểm truy cập Internet. Có kết nối mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để tăng thu nhập bền vững, phụ nữ còn cần kỹ năng, thông tin thị trường, nguồn vốn, môi trường số an toàn cùng cơ hội tiếp cận những công việc có chất lượng.
Kết quả tích cực từ hơn 90.000 hộ gia đình
Nghiên cứu của Pinghan Liang, Shu Tian và Yichuan Zhang sử dụng dữ liệu của 90.751 hộ gia đình trong Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam, kết hợp với chỉ số tiếp cận Internet cấp tỉnh thuộc Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh trong giai đoạn 2018–2020.
Trong mẫu nghiên cứu, 26% số hộ được đăng ký với chủ hộ là phụ nữ; 68,5% số hộ sinh sống tại khu vực nông thôn. Sau khi xem xét nhiều đặc điểm của hộ gia đình cũng như điều kiện tại địa phương, nhóm nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa mức độ kết nối số với thu nhập.
Điểm đáng chú ý là mối liên hệ này mạnh hơn ở các hộ có chủ hộ là phụ nữ so với hộ có chủ hộ là nam giới. Hiệu quả cũng rõ hơn trong nhóm có trình độ học vấn thấp, sống ở nông thôn hoặc có thu nhập dưới mức trung vị.
Kết quả không nên được hiểu đơn giản rằng cứ lắp Internet thì thu nhập của mỗi gia đình sẽ tự động tăng lên. Đây là ước lượng từ mô hình nghiên cứu trên một mẫu dữ liệu lớn, không phải mức tăng được bảo đảm cho từng hộ. Dù vậy, kết quả vẫn cho thấy kết nối số có thể giúp thu hẹp một số bất lợi về vị trí địa lý, thông tin và khả năng tiếp cận thị trường.
Với một người phụ nữ sống xa trung tâm, Internet có thể giảm chi phí tìm kiếm khách hàng, so sánh giá, cập nhật nhu cầu thị trường hoặc tiếp cận một khóa học mà trước đây chỉ có tại thành phố. Công nghệ cũng giúp người sử dụng duy trì liên hệ với đối tác, tìm hiểu thủ tục hành chính, tiếp cận dịch vụ tài chính hoặc biết đến những cơ hội việc làm ngoài mạng lưới quen thuộc.
Lợi ích lớn hơn ở nhóm còn nhiều bất lợi
Việc các hộ có chủ hộ là phụ nữ nhận được lợi ích lớn hơn từ kết nối số không có nghĩa họ đang có nhiều thuận lợi hơn. Ngược lại, kết quả có thể phản ánh thực tế rằng những nhóm vốn gặp nhiều rào cản sẽ có thêm dư địa cải thiện khi một rào cản quan trọng được tháo gỡ.
Phụ nữ nông thôn thường phải kết hợp công việc tạo thu nhập với chăm sóc con nhỏ, người cao tuổi và việc nhà. Trách nhiệm chăm sóc khiến họ khó di chuyển xa, khó làm việc theo thời gian cố định hoặc tham gia các lớp học trực tiếp kéo dài. Khi được sử dụng phù hợp, công nghệ giúp giảm bớt một phần hạn chế về thời gian và khoảng cách.
![]() |
| Công nghệ có thể mở rộng cơ hội việc làm trong lĩnh vực dịch vụ, nhưng chất lượng và độ ổn định của việc làm vẫn cần được tính đến. Ảnh minh họa tại Huế: Nhà văn/Pexels. |
Một người sản xuất nông sản có thể giới thiệu sản phẩm trực tiếp tới người mua. Người làm dịch vụ có thể nhận lịch hẹn qua mạng. Chủ cơ sở nhỏ có thể theo dõi đơn hàng, tìm nhà cung cấp hoặc học cách đóng gói sản phẩm. Người đang tạm rời thị trường lao động vì trách nhiệm gia đình vẫn có thể cập nhật kỹ năng để chuẩn bị quay lại làm việc.
Nghiên cứu cũng cho thấy kết nối số cấp tỉnh làm tăng khả năng phụ nữ đứng tên chủ hộ tham gia công việc trong khu vực dịch vụ. Đây là khu vực có nhiều hoạt động có thể được hỗ trợ bởi nền tảng số, từ bán lẻ, du lịch, chăm sóc khách hàng đến các dịch vụ chuyên môn.
Tuy nhiên, cần thận trọng khi diễn giải khái niệm “hộ có chủ hộ là phụ nữ”. Trong dữ liệu, đây là hộ mà sổ đăng ký xác định một phụ nữ là chủ hộ. Thông tin này không đồng nghĩa tất cả đều là mẹ đơn thân, lao động chính hoặc người trực tiếp quyết định mọi vấn đề kinh tế của gia đình.
Vì vậy, nghiên cứu cho thấy một khác biệt đáng quan tâm theo giới tính của người đứng tên chủ hộ, nhưng chưa đủ để phản ánh đầy đủ quyền quyết định, quyền sở hữu tài sản, thời gian lao động không được trả công hay cách thu nhập được phân chia giữa các thành viên.
Có đường truyền chưa đồng nghĩa có sinh kế
Một kết quả đáng suy nghĩ là khả năng tiếp cận Internet ở cấp hộ gia đình chưa tạo ra thay đổi có ý nghĩa rõ ràng đối với cơ hội làm việc trong khu vực dịch vụ của phụ nữ đứng tên chủ hộ. Trong khi đó, mức độ kết nối số chung tại địa phương lại có tác động tích cực.
Sự khác biệt này cho thấy một chiếc điện thoại hoặc đường truyền trong nhà có thể chưa đủ. Người sử dụng còn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng, chi phí dữ liệu, mức độ phổ biến của dịch vụ số, khả năng thanh toán, hệ thống giao nhận, thông tin việc làm cùng mạng lưới hỗ trợ tại địa phương.
Nếu một phụ nữ có điện thoại thông minh nhưng không biết nhận diện lừa đảo, không sử dụng được công cụ bán hàng hoặc không có tài khoản thanh toán phù hợp, khả năng biến kết nối thành thu nhập vẫn hạn chế. Nếu địa phương có sóng nhưng đường truyền thiếu ổn định, chi phí cao hoặc dịch vụ vận chuyển chưa đáp ứng, hoạt động kinh doanh trực tuyến cũng khó duy trì.
Bởi vậy, các chương trình hỗ trợ không nên dừng ở việc cung cấp thiết bị hay hướng dẫn thao tác cơ bản. Kỹ năng cần gắn với nhu cầu cụ thể: tìm việc đáng tin cậy, chụp ảnh sản phẩm, tính giá bán, quản lý đơn hàng, bảo vệ tài khoản, lưu giữ chứng từ, tiếp cận vốn hoặc xử lý tranh chấp với người mua.
Cách tiếp cận này tương đồng với những hoạt động giúp phụ nữ làm chủ không gian số thay vì chỉ hiện diện trên mạng.
Các mô hình đào tạo kỹ năng số từ cộng đồng cũng có lợi thế vì nội dung có thể được điều chỉnh theo nghề nghiệp, ngôn ngữ, độ tuổi và điều kiện sống của từng nhóm phụ nữ.
Thu nhập số cần đi cùng việc làm có chất lượng
Cơ hội kiếm tiền trên môi trường số không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc làm ổn định. Bán hàng qua mạng, phát trực tiếp, nhận việc theo đơn hoặc làm việc trên nền tảng có thể tạo thêm thu nhập, nhưng người lao động cũng có thể phải đối mặt với thu nhập thất thường, thời gian làm việc kéo dài và thiếu các chế độ bảo vệ.
Phụ nữ dễ chịu tác động mạnh hơn nếu công việc số được thực hiện song song với việc nhà và chăm sóc gia đình. Sự linh hoạt về thời gian có thể là lợi thế, nhưng cũng có thể khiến ranh giới giữa lao động kiếm sống với lao động chăm sóc gần như biến mất. Một người phụ nữ có thể làm việc tại nhà nhưng tổng thời gian lao động trong ngày lại dài hơn.
![]() |
| Một phụ nữ làm bún tại cơ sở sản xuất ở Việt Nam. Với những sinh kế quy mô nhỏ, kết nối số có thể hỗ trợ quảng bá sản phẩm, tìm kiếm khách hàng và tiếp cận thị trường. Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Rủi ro quấy rối, đánh cắp tài khoản, lộ thông tin cá nhân, lừa đảo tài chính hoặc gây áp lực bằng đánh giá tiêu cực cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì sinh kế. Với người kinh doanh nhỏ, mất một tài khoản bán hàng hoặc bị chiếm quyền truy cập có thể đồng nghĩa mất khách hàng, dữ liệu và nguồn thu.
Chính sách bình đẳng giới trong chuyển đổi số vì thế cần quan tâm đến chất lượng việc làm, không chỉ số phụ nữ có tài khoản hay tham gia nền tảng. Những chỉ báo quan trọng hơn gồm mức thu nhập thực nhận, tính ổn định, khả năng tham gia bảo hiểm, thời gian chăm sóc không được trả công, quyền kiểm soát tài khoản cùng mức độ an toàn khi làm việc.
Các chương trình như Bình dân học vụ số có thể tạo nền tảng tiếp cận rộng, nhưng nội dung dành cho phụ nữ cần được phát triển theo từng giai đoạn, từ sử dụng dịch vụ thiết yếu đến kỹ năng nghề nghiệp, kinh doanh và quản trị rủi ro.
Chính sách phải nhìn thấy phụ nữ cụ thể
Từ kết quả nghiên cứu, ưu tiên đầu tiên vẫn là mở rộng hạ tầng số có chất lượng tới khu vực nông thôn, vùng khó khăn và nhóm thu nhập thấp. Chi phí thiết bị, dữ liệu cùng dịch vụ liên quan cần ở mức mà phụ nữ có thể duy trì sử dụng, thay vì chỉ kết nối trong một thời gian ngắn.
Bước tiếp theo là tổ chức đào tạo dựa trên nhu cầu sinh kế. Phụ nữ sản xuất nông nghiệp cần kiến thức khác với người làm du lịch, bán lẻ, thủ công hay tìm việc chuyên môn. Các lớp học cũng cần tính đến quỹ thời gian, trách nhiệm chăm sóc, trình độ học vấn và khả năng tiếp cận thiết bị của học viên.
Cùng với kỹ năng, phụ nữ cần được kết nối với thị trường, nguồn vốn phù hợp, dịch vụ tư vấn và những kênh việc làm đáng tin cậy. Doanh nghiệp cùng các nền tảng có thể công khai điều kiện hợp tác, mức phí, cơ chế giải quyết tranh chấp và quy trình bảo vệ tài khoản bằng ngôn ngữ dễ hiểu.
Các cơ quan quản lý cũng cần dữ liệu chi tiết hơn về người thực sự sử dụng công nghệ, người kiểm soát thu nhập và người đưa ra quyết định trong gia đình. Chỉ phân loại theo giới tính của người đứng tên chủ hộ sẽ chưa thể hiện hết khác biệt giữa phụ nữ trẻ, phụ nữ lớn tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, lao động di cư hoặc người đang đảm nhận phần lớn công việc chăm sóc.
Kết nối số có thể tạo ra thay đổi rõ rệt cho những phụ nữ vốn bị giới hạn bởi khoảng cách, thời gian và cơ hội thị trường. Nhưng tác động bền vững chỉ hình thành khi đường truyền được đặt trong một hệ sinh thái gồm kỹ năng thực hành, an toàn số, nguồn lực tài chính cùng việc làm có chất lượng.




















Phát động chiến dịch “Kết nối 3 an – Làm chủ không gian số” dành cho phụ nữ
Kỹ năng số mở thêm cơ hội phát triển cho phụ nữ từ cộng đồng
Phụ nữ Việt Nam hướng tới kỷ nguyên số với "Bình dân học vụ số"
Cùng chuyên mục
Phụ nữ kinh doanh nhỏ đóng bảo hiểm thế nào khi doanh thu thay đổi?
20,2% lao động ngành năng lượng là nữ: Họ đang đứng ở đâu?
Trên ứng dụng, đàn ông chạy xe, phụ nữ nhận việc nhà
Những khoảng trống trong chăm sóc nữ phạm nhân
Dòng tiền số thêm căn cứ xét vay cho phụ nữ kinh doanh
Khi nghiên cứu y khoa không còn xem nam giới là chuẩn mặc định