![]() |
| PGS.TS. Phạm Thị Tâm, Trưởng phòng Quản lý Khoa học và Đối ngoại, Trường Đại học Mở Hà Nội, tại một hoạt động của trường tháng 7/2026. Ảnh: Trường Đại học Mở Hà Nội. |
Sáu ao cá tra ở An Giang, mỗi ao rộng 3.000 m² và sâu 4 m, được chia thành hai nhóm. Ba ao sử dụng thức ăn thông thường, ba ao còn lại được bổ sung hai chủng xạ khuẩn Streptomyces vào thức ăn. Thử nghiệm kéo dài bảy tháng, đủ lâu để nhóm nghiên cứu theo dõi từ chất lượng nước, tốc độ lớn đến tỷ lệ sống và lượng thức ăn cần dùng cho cá.
Đây là một phần trong hướng nghiên cứu do PGS.TS. Phạm Thị Tâm, Trưởng phòng Quản lý Khoa học và Đối ngoại, Trường Đại học Mở Hà Nội, chủ trì. Ngày 14/9/2026, trường công bố kết quả đề tài về áp dụng chế phẩm vi sinh đa chức năng trong nuôi thâm canh cá nước ngọt. Cùng ngày, lịch công tác của trường xếp cuộc họp hội đồng nghiệm thu đề tài mã MHN2025-01.01 do PGS.TS. Phạm Thị Tâm làm chủ nhiệm.
Điểm đáng chú ý không phải ở việc bổ sung “men vi sinh” vào thức ăn cho cá – cách làm này đã được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản – mà nằm ở hai chủng Streptomyces bản địa XK9 và XK22 mà nhóm lựa chọn. XK9 được phân lập từ trầm tích ao cá tra tại An Giang, còn XK22 có nguồn gốc từ trầm tích ao tôm ở Nam Định. Trước khi đưa ra ao nuôi, chúng đã trải qua các bước tuyển chọn về khả năng kháng khuẩn, tạo enzyme, thích nghi với đường tiêu hóa vật nuôi và độ ổn định của chế phẩm.
Từ phòng thí nghiệm xuống sáu ao cá tra
Streptomyces thuộc nhóm xạ khuẩn, là những vi khuẩn có khả năng tạo nhiều enzyme và hợp chất thứ cấp. Trong nuôi trồng thủy sản, một số chủng được nghiên cứu như probiotic nhằm tác động đồng thời tới môi trường nước, hệ vi sinh và vật nuôi. Nhưng hiệu quả không mặc nhiên giống nhau giữa các chủng hay giữa các mô hình nuôi, vì vậy giá trị của nghiên cứu nằm ở dữ liệu thu được trên chính hai chủng XK9 và XK22.
Trong thử nghiệm cá tra tại An Giang, chế phẩm đông khô chứa hai chủng được phối vào thức ăn ở mức 1 g/kg, tương đương 100 g cho 100 kg thức ăn. Ba ao đối chứng nhận cùng loại thức ăn nhưng không bổ sung Streptomyces. Mật độ thả từ 15–20 con/m³ và hai nhóm được theo dõi trong cùng điều kiện sản xuất.
![]() |
| PGS.TS. Phạm Thị Tâm, Trưởng phòng Quản lý Khoa học và Đối ngoại, Trường Đại học Mở Hà Nội, phát biểu tại hội nghị tháng 7/2026. Ảnh: Trường Đại học Mở Hà Nội. |
Sau bảy tháng, tỷ lệ sống trung bình của cá ở nhóm có Streptomyces đạt 88,55%, so với 73,81% ở nhóm đối chứng. Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR – lượng thức ăn cần thiết để tạo ra một đơn vị tăng trọng – là 1,61 ở nhóm thử nghiệm và 1,71 ở nhóm đối chứng. Các chỉ số tăng trưởng đặc hiệu và tăng khối lượng cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm sử dụng chế phẩm.
Chênh lệch khoảng 14,7 điểm phần trăm về tỷ lệ sống là con số đáng chú ý, nhưng phạm vi của kết quả phải được giữ đúng: đây là sáu ao, chia ba ao cho mỗi nhóm, tại một khu vực của An Giang. Nó chưa phải bằng chứng cho thấy mức hiệu quả tương tự sẽ lặp lại ở mọi trang trại cá tra, mùa vụ, nguồn nước hay mật độ nuôi khác nhau.
Một diễn biến khác cũng xuất hiện ở chất lượng nước. Trong các ao có bổ sung Streptomyces, nồng độ amoniac và độ đục được duy trì ở phạm vi thấp hơn trong một số giai đoạn so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, thí nghiệm không cho phép quy toàn bộ thay đổi của môi trường ao cho một cơ chế đơn lẻ, bởi ao nuôi còn chịu tác động của thức ăn, trao đổi nước, mật độ cá, nhiệt độ và quá trình quản lý hàng ngày.
Phần này cũng tạo một vị trí internal link tự nhiên: chế phẩm vi sinh trong nuôi trồng thủy sản. Bài trước của Phụ Nữ Mới đề cập một quy trình khác, trên tôm thẻ, trong đó chế phẩm vi sinh cũng được sử dụng như một thành phần của quản lý môi trường ao nuôi.
Một chi tiết không nên nhập làm một với nhau
Thông tin mới công bố ngày 14/9 cho biết quy trình mà đề tài xác định cho cá tra là 100 g chế phẩm/300 kg thức ăn, dùng ba ngày liên tiếp, mỗi ngày một lần rồi nghỉ một ngày. Với cá lóc, lượng sử dụng là 100 g/100 kg thức ăn, cũng theo nhịp ba ngày dùng – một ngày nghỉ.
Ở đây có một khác biệt kỹ thuật cần giữ rõ. Thử nghiệm cá tra đã công bố trên Iranian Journal of Fisheries Sciences dùng 1 g chế phẩm/kg thức ăn và sử dụng hàng ngày, trong khi quy trình được Trường Đại học Mở Hà Nội công bố tháng 9 cho cá tra chỉ tương đương khoảng 0,33 g/kg, lại có ngày nghỉ.
Vì vậy không thể lấy tỷ lệ sống 88,55%, FCR 1,61 hay các kết quả của thử nghiệm dùng 1 g/kg để khẳng định rằng phác đồ mới 100 g/300 kg chắc chắn tạo ra cùng mức hiệu quả. Tài liệu công khai hiện chưa trình bày đầy đủ dữ liệu cầu nối giữa hai mức sử dụng này. Đây chính là một trong những điểm cần thêm dữ liệu nếu quy trình được đưa rộng hơn ra sản xuất.
![]() |
| Kết quả thử nghiệm bảy tháng cho thấy nhóm cá tra sử dụng thức ăn bổ sung Streptomyces XK9 và XK22 có tỷ lệ sống 88,55%, so với 73,81% ở nhóm đối chứng; FCR lần lượt là 1,61 và 1,71. Nguồn: Tam P.T. và cộng sự, Iranian Journal of Fisheries Sciences, 2026. |
Các tác giả của bài báo cá tra cũng không coi nghiên cứu đã khép lại. Phần kết luận nêu cần tiếp tục làm rõ liều lượng, tần suất, thời gian sử dụng chế phẩm và khoảng ngừng trước thu hoạch, đồng thời tối ưu hiệu quả kinh tế. Nói cách khác, thử nghiệm thực địa đã cho tín hiệu tích cực, nhưng bài toán chuyển từ kết quả khoa học sang một quy trình ổn định và có lợi cho người nuôi vẫn còn những biến số phải giải quyết.
Cá lóc đã có quy trình, nhưng dữ liệu công khai còn mỏng hơn
Đề tài không dừng ở cá tra. Với cá lóc, Trường Đại học Mở Hà Nội cho biết nhóm đã xác định mức 100 g chế phẩm cho 100 kg thức ăn, sử dụng ba ngày rồi nghỉ một ngày. Một bài nghiên cứu về tác động của Streptomyces đối với miễn dịch không đặc hiệu và khả năng chống bệnh của cá lóc đã được Fisheries and Aquatic Sciences chấp nhận đăng.
Cách diễn đạt ở đây cần chính xác: được chấp nhận đăng chưa đồng nghĩa bài báo đã xuất bản và toàn bộ dữ liệu đã có thể kiểm tra công khai. Vì vậy bài này không sử dụng các con số hiệu quả trên cá lóc như một kết quả độc lập đã được đối chiếu tương tự nghiên cứu cá tra.
Ngày 3/9/2026 tạo thêm một mốc mới cho hướng nghiên cứu này. Đơn đăng ký sáng chế số 1-2026-06105 về quy trình nuôi cá lóc thâm canh trong ao đất sử dụng chế phẩm xạ khuẩn dạng bột chứa XK22 và XK9 đã xuất hiện trong Công báo Sở hữu công nghiệp số 466, tập A. Đây là đơn đăng ký sáng chế đã được công bố, không phải bằng sáng chế đã được cấp.
Sự phân biệt này quan trọng bởi một đơn sáng chế cho thấy nhóm đã tiến thêm một bước trong việc định hình quy trình kỹ thuật và bảo hộ tài sản trí tuệ, nhưng không thay thế việc đánh giá tính mới, trình độ sáng tạo theo quy trình cấp bằng; cũng không chứng minh sản phẩm đã thương mại hóa.
Từ kết quả ao nuôi đến bài toán sử dụng thực tế
PGS.TS. Phạm Thị Tâm theo đuổi hướng xạ khuẩn trong nuôi trồng thủy sản trước đề tài hiện nay. Lý lịch khoa học của bà ghi nhận đề tài cấp quốc gia giai đoạn 2021–2024 về tuyển chọn Streptomyces bản địa để sản xuất probiotic phòng bệnh vi khuẩn ở tôm sú và cá tra đã được nghiệm thu; các công bố tiếp theo tiếp tục khảo sát hai chủng XK9 và XK22 ở những cấu hình khác nhau.
Dòng nghiên cứu đó giúp giải thích vì sao đề tài mới không bắt đầu từ việc “tìm thấy” Streptomyces mà tập trung vào cách dùng chúng trong điều kiện nuôi thâm canh. Giá trị ứng dụng sẽ phụ thuộc vào khả năng biến một chủng vi sinh đã được tuyển chọn thành chế phẩm có mật độ ổn định, bảo quản được, phối trộn thuận tiện và cho kết quả lặp lại ở ao nuôi.
![]() |
| Quy trình được Trường Đại học Mở Hà Nội công bố tháng 9/2026: cá tra sử dụng 100 g chế phẩm/300 kg thức ăn; cá lóc 100 g/100 kg thức ăn. Cả hai đều áp dụng ba ngày liên tiếp, mỗi ngày một lần, sau đó nghỉ một ngày. Nguồn: Trường Đại học Mở Hà Nội. |
Đến thời điểm này, chưa có tài liệu công khai đủ để khẳng định chế phẩm đã được chuyển giao thương mại rộng rãi, có doanh thu hay được triển khai ở nhiều vùng nuôi. Trường Đại học Mở Hà Nội mô tả kết quả có thể chuyển giao thông qua hướng dẫn, đào tạo và phổ biến quy trình. “Có thể chuyển giao” khác với “đã chuyển giao”, và bài viết cần giữ nguyên khoảng cách đó.
Mốc tháng 9 vì thế đáng chú ý không phải vì một chế phẩm vi sinh đã giải xong bài toán nuôi cá thâm canh. Nó cho thấy nghiên cứu đã đi qua một bước khó hơn phòng thí nghiệm: thử ở ao sản xuất, có nhóm đối chứng, có dữ liệu sau bảy tháng, hình thành quy trình cho hai loài cá và bắt đầu thủ tục sở hữu trí tuệ.
Phần tiếp theo mới quyết định khả năng đi xa của công nghệ: thử ở nhiều vùng nuôi hơn, kiểm tra quy trình với liều mới thấp hơn trên cá tra, tính chi phí chế phẩm so với phần thức ăn và cá hao hụt tiết kiệm được, đồng thời xác định độ ổn định giữa các lô sản xuất. Khi những dữ liệu đó đủ dày, XK9 và XK22 mới có thể được đánh giá không chỉ bằng hiệu quả trong một thí nghiệm, mà bằng khả năng hoạt động ổn định trong những ao nuôi khác nhau của người dân.



















Hoàn thiện quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát bằng nước biển ở miền Trung
Các nhà khoa học dùng vi khuẩn giúp san hô chống chịu tẩy trắng
Chân dung năm nhà khoa học nữ mang trí tuệ đến ruộng đồng
Cùng chuyên mục
Xạ khuẩn bản địa và bước tiến mới trong nuôi cá thâm canh
PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hòa và bài toán vận hành chính quyền đô thị
ThS. Nguyễn Thị Kim Thoa đưa vi sinh bản địa vào xử lý phụ phẩm
Trương Thị Hoan làm băng tải giúp công nhân bớt khuân hàng
Nguyễn Thị Kim Yến đưa mạng lưới cấp nước lên bản đồ số
Kỹ sư Phạm Thị Bích Thủy tự thiết kế bộ kẹp 15 tấn cho tàu điện gió