Túi nhựa dùng một lần có ưu điểm rất khó thay thế ở quy mô lớn. Chúng nhẹ, dai, rẻ và có thể chịu được tải trọng đáng kể dù lớp vật liệu rất mỏng. Vì vậy, một vật liệu sinh học muốn thay thế túi nhựa không chỉ cần phân hủy được mà còn phải vượt qua một loạt phép thử thực dụng hơn như có đủ dẻo hay không, đựng được bao nhiêu, chịu ẩm thế nào và chi phí sản xuất có chấp nhận được hay không.
Ba sinh viên của Đại học Quốc gia Hà Nội chọn đi vào bài toán đó bằng một tổ hợp nguyên liệu khá khác thường. Nguyễn Thị Hải Yến, sinh viên ngành Song bằng Marketing, Trường Quốc tế, cùng Quách Phan Quỳnh Anh và Đỗ Thị Như Quỳnh của Trường Đại học Ngoại ngữ phát triển MycoBags, mẫu túi sinh học sử dụng phụ phẩm như rơm rạ kết hợp với hệ sợi nấm.
Nhóm hình thành từ đầu tháng 4/2026. Khoảng một tháng rưỡi sau, các thành viên đã có những mẫu vật liệu đầu tiên để mang tới cuộc thi CICSIC – Trạm Việt Nam. MycoBags giành giải Vàng và đứng thứ hai vòng chung kết. Tuy vậy, chính quá trình làm mẫu cho thấy khoảng cách giữa một vật liệu có thể tạo thành màng và một chiếc túi đủ sức thay thế sản phẩm nhựa thông thường vẫn còn khá xa.
![]() |
| Nguyễn Thị Hải Yến cùng Quách Phan Quỳnh Anh và Đỗ Thị Như Quỳnh, ba thành viên phát triển dự án MycoBags. Ảnh: Trường Quốc tế, ĐHQG Hà Nội. |
Làm túi từ thứ thường bị bỏ đi
Ý tưởng của MycoBags bắt đầu từ hai dòng vật liệu tưởng như không liên quan. Một bên là rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp thường có giá trị thấp sau thu hoạch. Bên còn lại là mycelium, tức mạng sợi của nấm có khả năng phát triển và liên kết với vật liệu hữu cơ.
Nhóm thử kết hợp hai thành phần này để tạo lớp vật liệu có thể định hình thành túi. Điểm mà các thành viên muốn hướng tới không chỉ là giảm nguyên liệu nhựa có nguồn gốc hóa thạch mà còn kéo dài vòng đời của phần nguyên liệu ban đầu. Sau khi túi hết thời gian sử dụng, nhóm đặt mục tiêu vật liệu có thể tiếp tục trở về đất thay vì trở thành một dòng rác mới.
Ý tưởng đó nghe đơn giản nhưng khâu tạo màng lại phát sinh nhiều vấn đề. Trong những lần thử ban đầu, nhóm phải thay đổi công thức để điều chỉnh độ dày, kích thước và độ đàn hồi. Đỗ Thị Như Quỳnh là thành viên trực tiếp tham gia nghiên cứu, phát triển sản phẩm; còn Nguyễn Thị Hải Yến, với vai trò trưởng nhóm, phụ trách định hướng dự án và nghiên cứu thị trường. Quách Phan Quỳnh Anh đảm nhiệm phần truyền thông và phối hợp tiến độ.
![]() |
| Mẫu sản phẩm MycoBags và lớp màng vật liệu trong giai đoạn thử nghiệm. Nhóm đang tiếp tục điều chỉnh độ dày và độ đàn hồi của vật liệu. Ảnh: Nhân vật cung cấp. |
Việc phân vai này đáng chú ý bởi MycoBags không phải dự án của sinh viên vật liệu hay công nghệ sinh học thuần túy. Ba thành viên xuất phát từ Marketing, Ngôn ngữ và Văn hóa Anh, Sư phạm tiếng Anh. Nhóm vì vậy phải dựa nhiều vào quá trình đọc tài liệu, thử nghiệm thủ công và điều chỉnh mẫu, thay vì phát triển sản phẩm từ một phòng thí nghiệm chuyên về polymer hay vật liệu sinh học.
Đó cũng là giới hạn cần nói rõ. Những thông tin công khai hiện chưa cho thấy MycoBags đã trải qua các phép thử chuẩn hóa về độ bền kéo, khả năng chịu tải, chống ẩm hay tốc độ phân hủy trong các điều kiện môi trường khác nhau. Chưa có cơ sở để kết luận vật liệu này có tính năng tương đương túi polyethylene đang bán trên thị trường.
Một chiếc túi sinh học vẫn phải qua những phép thử của túi thường
Sau vòng thi trong nước, nhóm cho biết sẽ tiếp tục thử trọng lượng mà mỗi túi có thể chịu và so sánh với túi nilon thông thường. Đây là bước quan trọng hơn việc chỉ chứng minh vật liệu có khả năng tạo thành màng.
Một chiếc túi dùng trong đời sống liên tục chịu lực kéo tại quai, biến dạng khi chứa vật nặng và có thể tiếp xúc với thực phẩm ẩm hoặc nước. Nếu vật liệu chỉ phân hủy tốt nhưng rách quá nhanh, người dùng có thể phải dùng nhiều túi hơn cho cùng một nhu cầu. Khi đó, lợi ích môi trường không thể chỉ đánh giá từ nguồn nguyên liệu.
Câu chuyện này cũng tương tự với tuyên bố MycoBags có thể trở thành phân bón hữu cơ sau sử dụng. Đây hiện là định hướng mà nhóm đặt ra, chưa phải kết quả đã được kiểm chứng bằng dữ liệu công bố về thành phần sau phân hủy, thời gian phân hủy hay tác động đối với đất và cây trồng.
Chính nhóm cũng xác định còn phải thực hiện kiểm định chất lượng và đánh giá độ an toàn trước khi thử phân phối tại một khu vực nhỏ. Kế hoạch ban đầu là thu nhận phản hồi người dùng, từ đó điều chỉnh sản phẩm trước khi cân nhắc mở rộng quy mô.
![]() |
| Nguyễn Thị Hải Yến, trưởng nhóm MycoBags, tại cuộc thi Sáng tạo và Khởi nghiệp sinh viên quốc tế năm 2026. Ảnh: Trường Quốc tế, ĐHQG Hà Nội. |
Điểm đáng chú ý trong lựa chọn của nhóm nằm ở cách nối hai đầu bài toán. Ở đầu vào, họ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp thay vì bắt đầu từ nguyên liệu hoàn toàn mới. Ở đầu ra, nhóm không muốn sản phẩm chỉ mang nhãn “sinh học” mà đặt mục tiêu cho vật liệu quay trở lại hệ sinh thái sau khi sử dụng.
Tuy nhiên, chính cách tiếp cận vòng đời này cũng đặt ra tiêu chuẩn cao hơn cho MycoBags. Một sản phẩm sinh học chỉ thực sự tạo khác biệt khi toàn bộ chuỗi từ nguyên liệu, quá trình sản xuất, thời gian sử dụng đến xử lý cuối vòng đời được chứng minh bằng dữ liệu. Việc có mycelium hay rơm rạ trong thành phần chưa đủ để tự động bảo đảm một sản phẩm có tác động môi trường thấp hơn nhựa thông thường.
Đây là điểm mà nhóm sẽ phải giải quyết nếu muốn MycoBags bước khỏi sân chơi sáng tạo sinh viên. Các phép thử về cơ tính, độ bền trong điều kiện ẩm, quá trình phân hủy, an toàn vật liệu và giá thành sẽ quyết định sản phẩm có thể tiến tới phân phối thử hay chỉ dừng lại ở mẫu trình diễn.
Với một dự án mới hình thành trong năm 2026, việc tạo được mẫu túi đã là bước đầu cụ thể. Phần việc khó hơn nằm ở những con số chưa có trên sân khấu cuộc thi. Một chiếc túi sinh học chỉ thực sự thuyết phục khi người dùng có thể mang nó đi chợ như một chiếc túi bình thường và sau đó, toàn bộ tuyên bố về vòng đời của vật liệu cũng được kiểm chứng rõ ràng.















Bao bì sinh học cần được quản lý theo toàn bộ vòng đời sản phẩm
Biến phụ phẩm thành vật liệu thay thế nhựa
Đưa phụ phẩm nông nghiệp vào vòng tuần hoàn của cộng đồng
Cành nho có thể trở thành chìa khóa mới thay thế bao bì nhựa
Cùng chuyên mục
Ba nữ sinh làm túi sinh học từ rơm rạ và hệ sợi nấm
Đỗ Hà My thử cách tìm xe buýt bằng giọng nói cho người cao tuổi
Q-AI Harness và cách Nguyễn Thị Hồng Trang tổ chức lại việc trả lời của AI
Làm lớp điện ly cho kính ô tô có thể đổi độ trong
Theo dõi hàng hóa khi xe vẫn đang chạy
Gùi Xanh thử cách trò chơi hóa việc phân loại rác