Từng đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, bà Hoàng Thị Ái Nhiên có nhiều năm trực tiếp tham gia công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, tham mưu chính sách và kết nối đội ngũ nữ trí thức. Từ trải nghiệm thực tiễn, bà cho rằng Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới, song những rào cản vô hình như định kiến giới, “trần kính”, gánh nặng việc nhà hay khoảng cách tiếp cận công nghệ vẫn đang hạn chế cơ hội phát triển của phụ nữ.
Thành tựu lớn nhất là phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế trong mọi lĩnh vực
PV: Sau nhiều năm tham gia công tác phụ nữ, theo bà, bước tiến lớn nhất của phụ nữ Việt Nam trong quá trình thúc đẩy bình đẳng giới là gì?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Trước hết, tôi cho rằng khi nhìn nhận về công tác phụ nữ phải đặt trong bối cảnh phát triển chung của đất nước. Những thành tựu về bình đẳng giới của Việt Nam không phải là kết quả của một giai đoạn ngắn mà là cả một quá trình bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự nỗ lực vươn lên không ngừng của chính phụ nữ Việt Nam.
Có thể nói, một trong những bước tiến rất quan trọng là phụ nữ ngày càng tham gia mạnh mẽ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, hoạt động chính trị, kinh tế, giáo dục và khoa học.
Theo số liệu tôi tham khảo, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam đạt khoảng 30,26%, cao hơn mức trung bình toàn cầu và đưa Việt Nam vào nhóm có tỷ lệ nữ tham chính khá cao trong khu vực. Trong lĩnh vực kinh tế và lao động, lực lượng lao động nữ chiếm khoảng 46,8% tổng lực lượng lao động cả nước; tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đạt khoảng 28,2%.
Trong giáo dục và tri thức, phụ nữ cũng có bước tiến rất đáng ghi nhận. Tỷ lệ nữ sinh đại học đã vượt 50%, tỷ lệ nữ ở trình độ thạc sĩ gần 40%, tiến sĩ hơn 10%.
Nhưng với tôi, điều đáng mừng không chỉ nằm ở những con số. Trong quá trình công tác cũng như sau khi nghỉ hưu, tôi có điều kiện đi nhiều địa phương, gặp gỡ phụ nữ ở đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều tôi luôn cảm nhận rất rõ là ở đâu phụ nữ cũng có khát vọng cống hiến, mong muốn được học tập, được phát triển và xây dựng gia đình hạnh phúc.
Điều họ cần là một môi trường thuận lợi, cơ hội bình đẳng và sự đồng hành của xã hội. Khi có điều kiện và cơ hội phù hợp, phụ nữ hoàn toàn có thể phát huy năng lực và đóng góp rất lớn cho sự phát triển của đất nước.
![]() |
| Bà Hoàng Thị Ái Nhiên, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam. |
PV: Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, theo bà đâu là những rào cản đối với phụ nữ hiện nay mà xã hội vẫn chưa nhận diện hoặc nhìn nhận đầy đủ?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Mặc dù chúng ta đã đạt được những bước tiến đáng kể về bình đẳng giới nhưng phụ nữ Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều rào cản cần tiếp tục tháo gỡ.
Tôi cho rằng có ba vấn đề rất đáng lưu ý. Thứ nhất là gánh nặng “việc nhà không tên”. Trong nhiều gia đình, phụ nữ vẫn mặc nhiên được xem là người phải chăm sóc gia đình, nấu nướng, nuôi dạy con cái, chăm sóc người già.
Đây là những công việc cần rất nhiều thời gian và công sức nhưng xã hội lại thường coi đó như “bản năng” của người phụ nữ chứ chưa nhìn nhận đầy đủ đây cũng là một dạng lao động cần được chia sẻ.
Hệ quả là quỹ thời gian của phụ nữ bị bào mòn. Khi phải dành quá nhiều thời gian cho trách nhiệm gia đình, họ sẽ có ít cơ hội hơn để học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ hay phát triển nghề nghiệp.
Thứ hai là hiệu ứng “trần kính”. Đây là hình ảnh chỉ những rào cản vô hình khiến phụ nữ khó vươn lên các vị trí quản lý hoặc lãnh đạo cấp cao. Trong thực tế, năng lực của nữ giới đôi khi vẫn bị đánh giá khắt khe hơn hoặc bị nhìn qua lăng kính định kiến giới.
Xã hội thường dễ chấp nhận phụ nữ trong vai trò hỗ trợ hơn là người ra quyết định.
Thứ ba là áp lực kép giữa gia đình và sự nghiệp. Phụ nữ thường bị đặt vào câu hỏi: “Chọn gia đình hay sự nghiệp?”. Trong khi đó, câu hỏi này rất hiếm khi đặt ra với nam giới.
Ngay cả khi phụ nữ có năng lực, tham vọng nghề nghiệp và tính quyết đoán, đôi khi họ vẫn dễ bị gắn với những nhận xét tiêu cực trong giao tiếp xã hội. Theo tôi, đây chính là những rào cản vô hình nhưng ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội phát triển của phụ nữ.
PV: Nhiều chính sách về bình đẳng giới được đánh giá khá tiến bộ, nhưng khi đi vào thực tế lại chưa tạo ra chuyển biến tương xứng. Theo bà, nguyên nhân nằm ở đâu?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Có nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi có thể nhìn vào ba nhóm vấn đề chính.
Thứ nhất là định kiến giới tồn tại lâu đời. Những quan niệm như trọng nam khinh nữ hay phân công lao động theo giới vẫn còn bám rễ khá sâu trong gia đình, cộng đồng, thậm chí trong một số cơ quan thực thi chính sách.
Nếu nhận thức xã hội không thay đổi thì rất khó để chính sách tạo ra chuyển biến thực chất.
Thứ hai là nguồn lực và kinh phí còn hạn chế. Một số chương trình về bình đẳng giới khi triển khai xuống cơ sở còn thiếu ngân sách, trang thiết bị và đặc biệt là đội ngũ cán bộ chuyên trách có đủ năng lực.
Thứ ba là cơ chế giám sát chưa đủ mạnh. Công tác kiểm tra, đôn đốc cũng như xử lý những vi phạm pháp luật về bình đẳng giới ở một số nơi chưa thật sự quyết liệt và đồng bộ.
Bên cạnh đó, tôi cho rằng việc khích lệ, động viên, khen thưởng những cá nhân, tập thể có kết quả nổi bật trong thúc đẩy bình đẳng giới cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Nói rộng hơn, thách thức lớn nhất trong việc đưa chủ trương vào cuộc sống chính là khoảng cách giữa tư duy chiến lược và năng lực thực thi.
Chủ trương có thể rất đúng, nhưng nếu ngân sách không đủ hoặc phân bổ chậm; đội ngũ thực hiện thiếu kỹ năng; cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương còn chồng chéo; tiêu chí đánh giá không rõ ràng thì hiệu quả thực tế sẽ rất hạn chế.
Đặc biệt với bình đẳng giới, rào cản khó thay đổi nhất vẫn là định kiến giới và khuôn mẫu giới ăn sâu trong nhận thức xã hội. Đây là rào cản vô hình nhưng đôi khi bền vững hơn cả những trở ngại về kinh tế hay pháp luật.
![]() |
| Bà Hoàng Thị Ái Nhiên (giữa) cho rằng bình đẳng giới chỉ thực chất khi phụ nữ có cơ hội bình đẳng để phát triển, cống hiến và khẳng định vị thế trong xã hội. |
PV: Vậy theo bà, một chính sách dành cho phụ nữ cần đáp ứng những điều kiện gì để thực sự đi vào cuộc sống?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Theo tôi, trước hết chính sách phải bảo đảm tính thiết thực, nghĩa là phản ánh đúng nhu cầu thực tế của từng nhóm phụ nữ.
Phụ nữ nông thôn, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ làm việc trong khu vực phi chính thức hay phụ nữ vùng dân tộc thiểu số có những hoàn cảnh và nhu cầu rất khác nhau. Vì vậy không thể có một chính sách chung chung rồi áp dụng giống nhau cho tất cả.
Chính sách cần giải quyết trực tiếp những vấn đề mà phụ nữ đang đối mặt hằng ngày, chẳng hạn như việc làm, thu nhập, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc con cái, điều kiện học tập và phát triển nghề nghiệp.
Điều thứ hai là tính khả thi và nguồn lực. Chính sách phải đi kèm nguồn lực tài chính rõ ràng, có cơ chế phân bổ cụ thể và kịp thời.
Thứ ba, các hướng dẫn thực hiện phải dễ hiểu, dễ áp dụng để cán bộ ở cơ sở và người dân có thể thực hiện.
Thứ tư là phải huy động được sự tham gia và đồng thuận của xã hội.
Đặc biệt, trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách phải lắng nghe tiếng nói của chính phụ nữ. Họ là đối tượng thụ hưởng chính sách nên họ hiểu rất rõ mình cần gì và đâu là những vấn đề đang cản trở họ.
Một chính sách dành cho phụ nữ chỉ thực sự hiệu quả khi nó vừa đúng về chủ trương, vừa phù hợp với thực tiễn và có đủ nguồn lực để triển khai.
Nữ trí thức phải được tạo điều kiện để tri thức đi vào đời sống
PV: Khoảng cách lớn nhất giữa phụ nữ thành thị và phụ nữ vùng sâu, vùng xa hiện nay, theo bà, là gì?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Nhắc đến khoảng cách giữa thành thị và miền núi, vùng sâu, vùng xa, tôi nhớ một khẩu hiệu trước đây là “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”.
Tôi từng nói vui rằng miền núi tiến được một bước thì miền xuôi có thể đã tiến thêm hai bước, chứ miền xuôi đâu có đứng lại để chờ.
Nói vậy để thấy rằng mặc dù Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa và những khu vực này đã có nhiều bước tiến đáng kể, nhưng khoảng cách phát triển vẫn còn.
Theo tôi, khoảng cách mang tính thời đại lớn nhất hiện nay chính là kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ.
Phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, thiếu thiết bị thông minh, mạng internet chưa ổn định. Điều đó khiến họ khó tiếp cận kiến thức về chuyển đổi số, thương mại điện tử hay các dịch vụ công trực tuyến như phụ nữ ở đô thị.
Bên cạnh đó là khoảng cách về chăm sóc y tế. Điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe sinh sản và dinh dưỡng ở nhiều vùng khó khăn vẫn còn hạn chế cả về cơ sở vật chất lẫn nhân lực y tế chất lượng cao.
Về kinh tế và đời sống văn hóa, phụ nữ vùng sâu, vùng xa vẫn chủ yếu làm những công việc lao động thủ công nặng nhọc, thu nhập bình quân thấp hơn và cơ hội tiếp cận các dịch vụ văn hóa, giải trí hay giáo dục chất lượng cao cũng hạn chế hơn.
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời thì khoảng cách đó có nguy cơ tiếp tục mở rộng.
![]() |
| Theo bà Hoàng Thị Ái Nhiên trong kỷ nguyên số và đổi mới sáng tạo, nữ trí thức có rất nhiều cơ hội. |
PV: Bà đánh giá thế nào về vị thế, cơ hội và những áp lực của nữ trí thức Việt Nam hiện nay?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Có thể nói nữ trí thức Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng và đang giữ vị thế ngày càng vững chắc.
Theo một số thống kê, phụ nữ chiếm khoảng 45-46% lực lượng nghiên cứu khoa học và phát triển - R&D của cả nước. Phụ nữ cũng đang đóng vai trò chủ chốt trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa và quản lý.
Với lực lượng đông đảo, được đào tạo bài bản, có trình độ tri thức và nhân cách, tôi cho rằng đóng góp của nữ trí thức là những đóng góp mang tính tinh hoa.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nữ trí thức Việt Nam đã quy tụ được mạng lưới hàng nghìn chuyên gia trình độ cao, trong đó có nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và nhiều cá nhân được trao các giải thưởng uy tín như Giải thưởng Kovalevskaia, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Nữ trí thức Việt Nam ngày nay không chỉ làm chủ tri thức trong nước mà còn ngày càng tự tin hội nhập quốc tế, tham gia sâu hơn vào mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Trong kỷ nguyên số và đổi mới sáng tạo, nữ trí thức có rất nhiều cơ hội. Chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế số mở ra không gian nghiên cứu rất rộng, tạo điều kiện để nữ trí thức đưa sáng chế từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Sự kết nối với các tổ chức quốc tế và mạng lưới khoa học trong khu vực cũng giúp chị em tiếp cận thêm nguồn lực tài chính, cố vấn chuyên môn và cơ hội hợp tác.
Tuy nhiên, áp lực đối với nữ trí thức vẫn rất lớn. Trước hết là gánh nặng “chức năng kép”. Nữ trí thức dù ở cương vị nào thường vẫn phải phân chia thời gian, sức lực giữa việc duy trì đỉnh cao nghề nghiệp và trách nhiệm chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái theo quan niệm truyền thống.
Việc đầu tư cho học tập, nâng cao trình độ cũng còn nhiều khó khăn do mức thu nhập trong một số lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn.
Ngoài ra, trong bối cảnh thương mại hóa kết quả khoa học, nhiều công trình do phụ nữ chủ trì dù đã bỏ rất nhiều công sức nghiên cứu nhưng vẫn gặp khó khăn trong chuyển giao công nghệ, tiếp cận thị trường hay gọi vốn đầu tư.
Đó là những vấn đề cần được nhìn nhận đầy đủ nếu chúng ta muốn phát huy tốt hơn nguồn lực nữ trí thức.
PV: Theo bà, Hội Nữ trí thức Việt Nam cần làm gì để kết nối tốt hơn nguồn lực trí tuệ của phụ nữ với sự phát triển đất nước?
Bà Hoàng Thị Ái Nhiên: Trước hết, Hội Nữ trí thức Việt Nam cần nhận thức sâu sắc, đúng đắn và đầy đủ về vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của tổ chức Hội đối với đội ngũ nữ trí thức nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung và sự phát triển của đất nước.
Lãnh đạo Hội phải là những trí thức tiêu biểu, có uy tín cao cả về tri thức khoa học và nhân cách đạo đức. Người đứng đầu phải thực sự là thủ lĩnh được chị em tin cậy, yêu kính và noi theo.
Có như vậy Hội mới có sức hút để tập hợp, kết nối đông đảo nữ trí thức ở mọi ngành nghề, lứa tuổi và vùng miền trong cả nước.
Hoạt động của Hội phải thiết thực, có chiều sâu, tránh phô trương, hình thức và phải được tổ chức chuyên nghiệp, hiệu quả.
Trong bối cảnh hiện nay, theo tôi, có một số việc Hội cần đặc biệt quan tâm.
Trước hết là tăng cường kết nối và mở rộng hợp tác, xây dựng cơ sở dữ liệu chung để kết nối các nhà khoa học và chuyên gia nữ trong và ngoài nước.
Thứ hai là tăng cường liên kết với doanh nghiệp, thúc đẩy mô hình phối hợp giữa nhà khoa học nữ và doanh nghiệp nhằm ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Thứ ba là hỗ trợ thương mại hóa các công trình nghiên cứu, đưa các sáng kiến, sản phẩm khoa học của phụ nữ vào sản xuất và đời sống.
Thứ tư, Hội cần phát huy mạnh hơn vai trò tư vấn và phản biện chính sách, tham gia đóng góp những ý kiến có chất lượng vào quá trình xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Một nhiệm vụ rất quan trọng nữa là bồi dưỡng lực lượng kế cận, phát hiện tài năng và tạo môi trường phát triển cho nữ trí thức trẻ.
Đồng thời phải tôn vinh, khen thưởng kịp thời, khách quan, đúng người, đúng việc đối với những cá nhân có đóng góp xuất sắc trong nghiên cứu và lao động sáng tạo.
Tôi cũng cho rằng tri thức của nữ trí thức không nên chỉ giới hạn trong giới khoa học. Hội cần kết nối sự quan tâm, tri thức cũng như nguồn lực tinh thần và vật chất của đội ngũ nữ trí thức với những nhóm phụ nữ yếu thế, phụ nữ còn khó khăn, giúp họ có thêm điều kiện vươn lên trong cuộc sống.
Về phía mỗi nữ trí thức, bản thân cũng phải không ngừng học tập, trau dồi bản lĩnh, chuyên môn, hiểu đúng và thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật; đồng thời chủ động đóng góp để Hội Nữ trí thức Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.
PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!























Nữ trí thức Hải Phòng: Năng động để tạo khác biệt
Để phản biện của nữ trí thức không dừng lại ở hội trường
Nữ trí thức nghệ thuật trước thách thức của kỷ nguyên số
Luật Thủ đô mở thêm đường cho nữ trí thức làm chủ công nghệ
Những khoảng trống trong chăm sóc nữ phạm nhân
Nhân chứng kể lại khoảnh khắc nhìn 5 chú tiểu bị đánh: “Tôi run quá, lấy điện thoại ra quay”
Cùng chuyên mục
Bình đẳng giới chỉ thực chất khi phụ nữ có cơ hội bình đẳng để phát triển và cống hiến
Để phản biện của nữ trí thức không dừng lại ở hội trường
TS. Trương Thị Thu Trang trước bài toán bản quyền của AI
Nữ trí thức nghệ thuật trước thách thức của kỷ nguyên số
TS. Lê Thị Mai Liên: Sau hai “ca làm việc”, ai chăm sóc tinh thần phụ nữ?
Khoa học mở thêm không gian cho nữ trí thức kết nối