![]() |
| ThS.BS.CKII Hồ Phạm Thục Lan, Trưởng Đơn vị Cơ xương khớp - Chuyển hóa, Trung tâm Nghiên cứu Y sinh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Ảnh: Blackceles/Frederic Gedovius - Wikimedia Commons. |
Hai người có cùng cân nặng và cùng chỉ số BMI chưa chắc có cấu tạo cơ thể giống nhau. Một người có thể mang nhiều mỡ hơn, người kia có tỷ lệ cơ cao hơn. Sự khác biệt tưởng như đơn giản ấy lại trở thành câu hỏi đáng chú ý khi đánh giá nguy cơ gãy xương.
Một nghiên cứu công bố trên Osteoporosis International đầu năm 2026, sử dụng dữ liệu của 1.372 người Việt từ 50 tuổi thuộc Vietnam Osteoporosis Study (VOS), ghi nhận mối liên hệ hình chữ U giữa khối cơ và gãy đốt sống: nguy cơ cao hơn xuất hiện ở cả hai cực khối cơ thấp và khối cơ cao. Trong khi đó, chỉ số khối mỡ không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với gãy đốt sống.
Đây là một kết quả dễ bị đọc quá nhanh. Nó không có nghĩa “nhiều cơ gây gãy xương”, càng không phải lời khuyên người lớn tuổi nên hạn chế phát triển cơ bắp. Nghiên cứu có thiết kế cắt ngang, vì vậy chỉ xác định được mối liên hệ tại thời điểm khảo sát, chưa thể chứng minh khối cơ ở hai cực trực tiếp gây ra gãy đốt sống.
Trong nhóm tác giả của công trình có ThS.BS.CKII Hồ Phạm Thục Lan. Danh sách nhân sự hiện hành của Trung tâm Nghiên cứu Y sinh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch xác định bà là Trưởng Đơn vị Cơ xương khớp - Chuyển hóa. Hồ sơ năng lực của đơn vị cho biết hướng nghiên cứu tập trung vào loãng xương và các bệnh mạn tính không lây ở người Việt.
Một bộ dữ liệu được xây để trả lời câu hỏi của người Việt
Vai trò của Hồ Phạm Thục Lan trong câu chuyện này không bắt đầu từ bài báo năm 2026.
Năm 2017, bài báo trình bày cơ sở khoa học và thiết kế của Vietnam Osteoporosis Study có hai tác giả; Lan T. Ho-Pham đứng tên đầu đồng thời là tác giả liên hệ. VOS được thiết kế như một nghiên cứu quần thể theo gia đình, thu thập không chỉ mật độ xương mà cả thành phần cơ thể, đặc điểm xương bè và xương vỏ, các chỉ dấu chuyển hóa trong máu và dữ liệu phục vụ nghiên cứu gene. Tại thời điểm công bố thiết kế, nhóm cho biết đã tuyển hơn 4.157 người thuộc 817 gia đình.
Giá trị của một hệ dữ liệu như vậy nằm ở khả năng quay trở lại cùng quần thể để đặt những câu hỏi mới. Thay vì chỉ biết một người “nặng bao nhiêu”, nhóm có thể tách khối cơ, khối mỡ, mật độ khoáng xương và hình ảnh cột sống để xem yếu tố nào thực sự đi cùng nguy cơ.
Điều này đặc biệt quan trọng với gãy đốt sống vì tổn thương không phải lúc nào cũng được nhận biết bằng một tai nạn rõ ràng. Trong một phân tích VOS công bố năm 2024 trên 401 người từ 50 tuổi, 49 trường hợp có gãy đốt sống trên phim, tương đương 12,2%. Sau hai năm theo dõi, nhóm ghi nhận thêm sáu trường hợp mới, tương ứng 6,6 ca trên 1.000 người-năm. Phần lớn tổn thương ở thời điểm ban đầu thuộc mức độ nhẹ.
Ở góc độ đời sống, câu chuyện về xương vì thế không thể tách hoàn toàn khỏi cơ. Tình trạng mất cơ ở người lớn tuổi có thể ảnh hưởng vận động, thăng bằng và khả năng duy trì cuộc sống độc lập; nhưng nghiên cứu mới cho thấy bài toán đánh giá thành phần cơ thể còn phức tạp hơn việc đơn giản coi “càng nhiều cơ càng tốt”.
![]() |
| Một lần đo thành phần cơ thể bằng DXA. Ảnh dùng để minh họa phương pháp đo, không phải thiết bị hay người tham gia Vietnam Osteoporosis Study. Ảnh: Nick Smith Photography/Wikimedia Commons. |
Đường cong chữ U thay cho một câu trả lời đơn giản
Trong nghiên cứu năm 2026, thành phần cơ thể của 1.372 người từ 50 tuổi được đo bằng DXA. Gãy đốt sống được xác định trên phim X-quang ngực - thắt lưng theo phương pháp bán định lượng Genant. Tổng cộng 173 người, tương đương 12,6% mẫu nghiên cứu, được xác định có gãy đốt sống.
Khi phân tích chỉ số khối cơ xương ở các chi, viết tắt là ASMI, nhóm ghi nhận hai đầu phân bố đều có mức odds gãy đốt sống cao hơn nhóm tham chiếu trong mô hình. Ở nhóm thấp nhất, OR là 1,72 với khoảng tin cậy 95% từ 1,02 đến 2,95; ở nhóm cao nhất, OR là 2,59 với khoảng tin cậy từ 1,36 đến 5,02. Chỉ số khối mỡ BFMI lại không liên quan có ý nghĩa thống kê với gãy đốt sống, với p=0,365.
Con số 2,59 không nên được dịch thành “nguy cơ tăng 159%” rồi dùng như một khuyến cáo sức khỏe cho từng cá nhân. Đây là odds ratio từ mô hình quan sát, không phải kết quả của một thử nghiệm can thiệp. Mẫu nghiên cứu cũng gồm cả nam và nữ từ 50 tuổi, nên không thể tự động áp kết quả cho riêng phụ nữ sau mãn kinh hay bất kỳ nhóm tuổi cụ thể nào.
![]() |
| Phim X-quang minh họa các tổn thương gãy tại đốt sống L1, L2 và L4 ở một phụ nữ 79 tuổi. Đây không phải người tham gia VOS. Ảnh: Jmarchn/Wikimedia Commons. |
Một chi tiết khác đáng giữ lại là phản ứng khoa học sau khi bài báo xuất hiện. Công trình đã nhận các thư trao đổi trên chính Osteoporosis International; nhóm tác giả sau đó công bố thư phản hồi có Hồ Phạm Thục Lan tham gia. Việc có tranh luận không làm nghiên cứu “yếu đi”; ngược lại, nó cho thấy kết quả khác thường đang được cộng đồng chuyên môn soi kỹ trước khi có thể tiến xa hơn về diễn giải hay ứng dụng.
Đóng góp nằm ở hạ tầng nghiên cứu tồn tại qua nhiều năm
Sẽ không chính xác nếu quy kết quả năm 2026 cho riêng Hồ Phạm Thục Lan. Bài báo có 10 tác giả và PubMed không cung cấp tuyên bố đóng góp chi tiết cho từng người. Bà được xác nhận là một đồng tác giả của công trình; dấu ấn cá nhân rõ hơn có thể kiểm chứng nằm ở việc bà đứng tên đầu và là tác giả liên hệ của bài thiết kế VOS từ năm 2017, cùng hoạt động lâu dài của đơn vị nghiên cứu cơ xương khớp - chuyển hóa mà bà đang phụ trách.
Trung tâm Nghiên cứu Y sinh cũng ghi nhận Hồ Phạm Thục Lan trực tiếp phụ trách đào tạo về DXA và sức khỏe xương. Một khóa đào tạo của đơn vị dành một nửa thời lượng cho thực hành, từ đo mật độ xương ở cột sống, cổ xương đùi, cẳng tay và toàn thân đến sử dụng các chức năng DXA trong nghiên cứu.
Đây là lớp đóng góp ít gây chú ý hơn một “phát hiện mới”, nhưng quan trọng đối với năng lực nghiên cứu trong nước: dữ liệu chỉ có thể tích lũy qua nhiều năm khi phía sau nó có con người, thiết bị, quy trình đo và khả năng đào tạo được duy trì.
Một hướng khác mà Phụ Nữ Mới từng giới thiệu là ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đọc kết quả mật độ xương. So với cách tiếp cận đó, nghiên cứu của VOS đi theo hướng bổ sung: xây dữ liệu quần thể đủ sâu để hiểu thành phần cơ thể và các yếu tố nguy cơ ở người Việt, trước khi nghĩ tới công cụ sàng lọc hay dự báo.
Với phụ nữ, sức khỏe xương còn thay đổi rõ khi bước vào giai đoạn suy giảm estrogen. Những trường hợp suy giảm mật độ xương khi mãn kinh sớm cho thấy tuổi trên giấy không đủ để đại diện cho toàn bộ nguy cơ. Điều đó càng củng cố nhu cầu đánh giá dựa trên dữ liệu cơ thể thực tế thay vì một chỉ số duy nhất.
Kết quả về khối cơ năm 2026 vì vậy chưa phải một công thức mới để bác sĩ quyết định ai sẽ gãy xương. Nó đặt ra một câu hỏi chính xác hơn: nếu BMI gộp cơ và mỡ vào cùng một con số, chúng ta đang bỏ qua bao nhiêu thông tin có giá trị?
Để đi từ mối liên hệ tới ứng dụng lâm sàng, dữ liệu cần tiếp tục được kiểm chứng bằng nghiên cứu theo thời gian và ở những quần thể khác. Nhưng với Hồ Phạm Thục Lan, giá trị dễ nhìn thấy hơn đã hình thành: một hướng nghiên cứu về xương của người Việt được duy trì đủ lâu để những câu hỏi năm 2015 có thể tạo ra dữ liệu cho những câu hỏi mới hơn một thập niên sau.
Đọc đúng kết quả nghiên cứu năm 2026
- Mẫu nghiên cứu: 1.372 người Việt từ 50 tuổi thuộc Vietnam Osteoporosis Study.
- Có 173 người được xác định gãy đốt sống, tương đương 12,6%.
- Khối cơ ở hai cực thấp và cao có mối liên hệ hình chữ U với gãy đốt sống.
- Chỉ số khối mỡ BFMI không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê.
- Đây là nghiên cứu cắt ngang: phát hiện mối liên hệ, chưa chứng minh quan hệ nhân quả và chưa tạo ra khuyến cáo tăng hay giảm khối cơ.





















PGS. BS Nguyễn Ngọc Tâm: Khi trí tuệ khoa học song hành cùng trái tim thầy thuốc
PGS.TS.BS Bùi Mỹ Hạnh: “Các nghiên cứu của chúng tôi đều hướng đến lợi ích của người bệnh”
Cùng một cơn đau, phụ nữ và nam giới có được đánh giá như nhau?
40 tuổi, người phụ nữ hay "bốc hỏa", tâm trạng cáu gắt "sáng nắng chiều mưa": Bác sĩ chỉ ra căn bệnh đe dọa đến sức khỏe nhưng dễ bỏ qua
Cùng chuyên mục
Khối cơ quá thấp hoặc quá cao đều gắn với nguy cơ gãy đốt sống
Theo dấu neutrino để tìm khác biệt giữa vật chất và phản vật chất
Ba xanthone mới được tìm thấy trong cành tai chua Việt Nam
Lạc đen đứng đầu thử nghiệm chịu hạn ở giai đoạn cây con
28 mẫu PM2.5 cho thấy BPA và 4NP tại hai điểm nội đô Hà Nội
Từ nấm bản địa đến công nghệ lên men, chuyển hóa sinh học