![]() |
| PGS.TS Vì Thị Xuân Thủy cùng cộng sự sàng lọc sáu giống lạc, ghi nhận bốn giống địa phương chịu hạn tốt hơn L14 và L27 trong điều kiện gây hạn nhân tạo. |
Sáu giống lạc dưới một phép thử thiếu nước
Trong sáu giống lạc được đặt vào điều kiện gây hạn nhân tạo, kết quả không xếp hai giống L14 và L27 ở phía trên. Bốn giống địa phương gồm lạc đen, lạc đỏ Quỳnh Nhai, lạc hoa vằn và lạc đỏ Mai Sơn lần lượt đứng trước hai giống này về khả năng chịu hạn ở giai đoạn cây con. Lạc đen đứng đầu bảng xếp hạng của nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu được công bố tháng 3/2025 trên TNU Journal of Science and Technology. PGS.TS Vì Thị Xuân Thủy, giảng viên, Giám đốc Trung tâm Thực hành - Thí nghiệm, Trường Đại học Tây Bắc, đứng tên đầu đồng thời là tác giả liên hệ của bài báo có hai tác giả. Bà nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành Di truyền học năm 2017; tháng 3/2026, Trường Đại học Tây Bắc công bố việc bà được công nhận đạt chuẩn và bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư.
Cách đánh giá không dựa vào một biểu hiện đơn lẻ như cây còn xanh hay đã héo. Nhóm nghiên cứu theo dõi hiệu suất chịu hạn, độ bền của chlorophyll, cường độ quang hợp, thoát hơi nước và hàm lượng proline trong thời gian cây bị thiếu nước và sau khi được phục hồi. Từ các chỉ tiêu đó, thứ tự được xác lập là lạc đen, lạc đỏ Quỳnh Nhai, lạc hoa vằn, lạc đỏ Mai Sơn, L14 rồi L27.
Ở một lát cắt rộng hơn, công nghệ sinh học trong chọn và tạo giống cây trồng đang được sử dụng để đi sâu từ biểu hiện bên ngoài tới đặc điểm sinh lý và di truyền của vật liệu giống.
![]() |
| PGS.TS Vì Thị Xuân Thủy phát biểu tại một hội thảo khoa học của Trường Đại học Tây Bắc năm 2020, thời điểm bà mang học vị tiến sĩ. Ảnh: Trường Đại học Tây Bắc. |
Điểm đáng chú ý nằm ở vật liệu địa phương
Kết quả của bốn giống lạc địa phương có ý nghĩa trước hết ở khâu sàng lọc vật liệu. Thay vì chỉ nhìn vào các giống đang được sử dụng phổ biến, nghiên cứu đặt nguồn giống địa phương vào cùng một phép thử để xem những đặc tính đã được lưu giữ qua quá trình canh tác có thể cung cấp gì cho công việc chọn tạo giống.
Đó cũng là điểm cần đọc chính xác. Thí nghiệm được tiến hành ở giai đoạn cây con và sử dụng phương pháp gây hạn nhân tạo. Vì vậy, việc lạc đen đứng đầu không đồng nghĩa giống này đã được chứng minh có năng suất cao hơn ngoài đồng ruộng, thích nghi tốt hơn ở mọi vùng sinh thái hay đã sẵn sàng trở thành một giống thương mại. Chính các tác giả giới hạn kết luận ở việc cung cấp cơ sở khoa học và vật liệu khởi đầu cho chọn, tạo giống lạc chịu hạn.
Khoảng cách từ một tín hiệu tốt trong thí nghiệm tới giống cây có thể sản xuất ổn định còn đòi hỏi đánh giá ở nhiều mùa vụ, điều kiện đất đai và mức thiếu nước khác nhau, đồng thời phải theo dõi năng suất, chất lượng hạt và tính ổn định của đặc tính. Những trường hợp đưa tính trạng chịu hạn từ nghiên cứu tới giống cây trồng thực tế cho thấy phần thử nghiệm tiếp theo thường dài hơn nhiều so với bước sàng lọc ban đầu.
![]() |
| Thứ tự khả năng chịu hạn của sáu giống lạc trong thử nghiệm gây hạn nhân tạo ở giai đoạn cây con. Đồ họa: Phụ nữ Mới; dữ liệu: TNU Journal of Science and Technology. |
Từ sàng lọc giống tới hệ tái sinh trong phòng thí nghiệm
Một công bố khác của PGS.TS Vì Thị Xuân Thủy, đăng tháng 3/2026 trên Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho thấy một nhánh công việc khác với cây lạc. Trong nghiên cứu này, bà tiếp tục đứng tên đầu và là tác giả liên hệ trong nhóm hai tác giả, tập trung xây dựng hệ thống tái sinh in vitro cho giống L27.
Mục tiêu ở đây không phải chứng minh đã tạo được cây lạc chuyển gen chịu hạn. Nhóm nghiên cứu mới xây dựng các điều kiện để mô thực vật tái sinh chồi, tạo nhiều chồi và ra rễ hiệu quả, qua đó hình thành nền kỹ thuật phục vụ những thí nghiệm chuyển gen bằng Agrobacterium về sau. Ở điều kiện tối ưu được báo cáo, mẫu từ nách lá mầm đạt trung bình 4,43 chồi/mẫu, còn công đoạn ra rễ đạt trung bình 8,32 rễ/chồi.
Đây là ranh giới quan trọng giữa “xây được hệ tái sinh phục vụ chuyển gen” và “đã tạo thành công giống chuyển gen”. Nghiên cứu năm 2026 mới chứng minh bước thứ nhất. Những quy trình nhân giống và tái sinh cây bằng kỹ thuật in vitro có thể trở thành công cụ quan trọng cho công nghệ sinh học thực vật, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phải được kiểm chứng ở từng giống và mục tiêu cụ thể.
Hai công bố về lạc cũng không nên ghép lại thành một tuyên bố rằng L27 đã được cải thiện khả năng chịu hạn. Một nghiên cứu so sánh khả năng chịu hạn của sáu giống ở giai đoạn cây con; nghiên cứu còn lại xây dựng công cụ tái sinh cho L27 trong phòng thí nghiệm. Đặt cạnh nhau, chúng phản ánh hai lớp công việc mà một nhà chọn giống cần có: nhận diện vật liệu đáng quan tâm và chuẩn bị công cụ để can thiệp sâu hơn vào vật liệu cây trồng.
Hồ sơ chuyên môn của PGS.TS Vì Thị Xuân Thủy cho thấy hướng nghiên cứu này không xuất hiện đột ngột. Bà đã nhiều năm làm việc với khả năng chống chịu của cây trồng, nguồn giống địa phương, nhân giống in vitro và công nghệ gen. Với cây lạc, giá trị của hai nghiên cứu hiện tại vì thế chưa nằm ở một “giống mới” đã hoàn thiện, mà ở việc tạo thêm căn cứ để lựa chọn vật liệu và xây tiếp những bước kỹ thuật cần thiết.
Đọc đúng kết quả nghiên cứu
Đối tượng: 6 giống lạc, gồm 4 giống địa phương và L14, L27.
Điều kiện: gây hạn nhân tạo ở giai đoạn cây con.
Thứ tự chịu hạn: lạc đen > lạc đỏ Quỳnh Nhai > lạc hoa vằn > lạc đỏ Mai Sơn > L14 > L27.
Kết quả chưa phải bằng chứng về năng suất ngoài đồng ruộng hoặc một giống lạc thương mại mới.
Nghiên cứu L27 năm 2026 xây dựng hệ tái sinh in vitro phục vụ chuyển gen, chưa báo cáo đã tạo được cây chuyển gen chịu hạn.




















Chọn giống tốt, dùng AI đúng cách: Góc nhìn từ hai nữ trí thức Việt tại châu Âu
Nữ tiến sĩ với dự án xanh hồi sinh đất nhiễm mặn bằng kỷ tử đen
Nhà khoa học Argentina đứng sau giống lúa mì chịu hạn đầu tiên trên thế giới
Cùng chuyên mục
Lạc đen đứng đầu thử nghiệm chịu hạn ở giai đoạn cây con
28 mẫu PM2.5 cho thấy BPA và 4NP tại hai điểm nội đô Hà Nội
Từ nấm bản địa đến công nghệ lên men, chuyển hóa sinh học
Chọn nơi mở cơ sở khi khách hàng đứng trước nhiều lựa chọn
Đưa cây cỏ bản địa lên máy tính để sàng lọc thuốc mới
Cảm biến graphene phát hiện khí H₂S ở nồng độ thấp hơn 1.000 lần thiết bị thương mại