![]() |
| Đánh giá cơn đau cần dựa trên bệnh cảnh và bằng chứng chuyên môn, không phải những giả định gắn với giới. Ảnh minh họa: Kaboompics/Pexels. |
Hai người cùng đến cơ sở y tế vì đau lưng không có nghĩa họ mắc cùng bệnh hay cần cùng một cách điều trị. Nhưng nếu những khác biệt trong đánh giá xuất phát từ giả định rằng phụ nữ dễ “cảm tính”, còn nam giới chịu đau tốt hơn, vấn đề không còn nằm ở khác biệt sinh học mà đã chạm tới định kiến giới trong quyết định lâm sàng.
Một tổng quan phạm vi đăng trên BMJ Open năm 2026 đã rà 21 nghiên cứu về định kiến giới của nhân viên y tế trong đánh giá, chẩn đoán và xử trí đau cơ xương khớp. Các nghiên cứu này bao gồm 3.694 nhân viên y tế thuộc nhiều chuyên ngành. Kết quả cho thấy giới của người bệnh có thể ảnh hưởng đến một số đánh giá và lựa chọn điều trị, nhưng bằng chứng không đồng nhất ở mọi nghiên cứu và mọi loại can thiệp.
Điểm cần giữ tỉnh táo là toàn bộ 21 nghiên cứu đều được thực hiện ở Bắc Mỹ và châu Âu. Phần lớn còn dựa trên tình huống giả định thay vì người bệnh thật. Vì vậy, kết quả này không đủ căn cứ để nói phụ nữ Việt Nam đang bị bác sĩ đánh giá thấp cơn đau. Nhưng nó đặt ra một câu hỏi đáng kiểm tra: trong khám chữa bệnh, chúng ta đã có đủ dữ liệu để biết giới có vô tình ảnh hưởng tới quyết định chuyên môn hay chưa?
Khi cơn đau bị đọc qua khuôn mẫu giới
Trong 21 công trình được tổng hợp, 12 nghiên cứu sử dụng tình huống bệnh án viết sẵn, 7 nghiên cứu kết hợp tình huống với hình ảnh hoặc video người bệnh ảo và chỉ 2 nghiên cứu làm việc với người bệnh thật. Sáu công trình ghi nhận giới tính của người bệnh có ảnh hưởng đến cách nhân viên y tế đánh giá đau; chín công trình ghi nhận khác biệt liên quan đến giới trong khuyến nghị điều trị không dùng thuốc.
Một số nghiên cứu trong tổng quan cho thấy cơn đau của phụ nữ có khả năng được diễn giải nhiều hơn theo hướng liên quan đến cảm xúc, tâm lý hoặc thiếu tính đặc hiệu. Với một số tình huống đau lưng, bệnh nhân nam lại có khả năng được khuyến nghị tập luyện hoặc làm xét nghiệm nhiều hơn, trong khi bệnh nhân nữ nhận nhiều khuyến nghị tư vấn hay điều trị tâm lý hơn.
![]() |
| Cảm nhận đau của người bệnh cần được lắng nghe và đặt trong quá trình đánh giá lâm sàng có hệ thống. Ảnh: National Cancer Institute/Wikimedia Commons. |
Tuy nhiên, sẽ sai nếu từ đó rút gọn vấn đề thành kết luận “phụ nữ luôn bị cho ít thuốc giảm đau hơn”. Chính tổng quan cho thấy kết quả về điều trị bằng thuốc khá hỗn hợp: có nghiên cứu phát hiện khác biệt theo giới, có nghiên cứu lại không thấy giới là yếu tố dự báo quyết định điều trị. Đây là lý do bài toán cần được nhìn như một vấn đề chất lượng quyết định lâm sàng, chứ không phải lời quy kết đối với đội ngũ y tế.
Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Đau (IASP) cũng lưu ý định kiến giới trong chăm sóc đau có thể tồn tại ở cả dạng có ý thức và vô thức. Một người hành nghề hoàn toàn có thể ủng hộ bình đẳng nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi những khuôn mẫu xã hội khi phải đưa ra quyết định nhanh trong môi trường nhiều áp lực.
Ở chiều ngược lại, nam giới cũng có thể chịu hệ quả của khuôn mẫu “đàn ông phải chịu đau giỏi”. IASP chỉ ra rằng giới và những kỳ vọng xã hội liên quan đến nam tính có thể ảnh hưởng cách nam giới biểu đạt, tìm kiếm hỗ trợ và được nhìn nhận khi có đau. Vì vậy, mục tiêu không phải chuyển sự ưu tiên từ nam sang nữ, mà là giảm những giả định thiếu căn cứ đối với cả hai giới.
Khác biệt sinh học không phải là định kiến
Bình đẳng trong y tế không đồng nghĩa với việc một triệu chứng phải luôn dẫn tới cùng một xét nghiệm, cùng một thuốc hay cùng một phác đồ ở phụ nữ và nam giới.
IASP cho biết có những khác biệt sinh học thực sự liên quan đến đau, từ hormone, hệ thần kinh đến sự phân bố của một số bệnh lý. Phụ nữ cũng có tỷ lệ cao hơn ở nhiều tình trạng đau mạn tính, trong khi một số dạng đau khác gặp nhiều hơn ở nam giới. Những khác biệt này cần được y học nhận diện chứ không nên bị xóa bỏ dưới danh nghĩa “đối xử giống nhau”.
Ranh giới cần phân biệt nằm ở căn cứ của quyết định. Nếu bác sĩ chỉ định khác nhau vì bệnh cảnh, nguy cơ, đặc điểm sinh học hoặc bằng chứng chuyên môn khác nhau, đó có thể là chăm sóc phù hợp với từng người. Nhưng nếu hai trường hợp tương đương lại được nhìn khác nhau chỉ vì một người là phụ nữ và người kia là nam giới, khuôn mẫu giới đã có khả năng chen vào quyết định.
4 chỉ số có thể giúp nhận diện chênh lệch theo giới
- Thời gian từ tiếp nhận đến đánh giá và xử trí đau trong cùng nhóm bệnh.
- Tỷ lệ chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh hoặc chuyển chuyên khoa sau khi đã tính đến mức độ bệnh.
- Tỷ lệ tái khám ngoài dự kiến hoặc quay lại cấp cứu vì cùng triệu chứng.
- Đánh giá của người bệnh về việc được lắng nghe, giải thích và tham gia quyết định điều trị.
Các chỉ số cần được phân tích cùng tuổi, chẩn đoán, mức độ bệnh và những yếu tố lâm sàng liên quan; không nên dùng chênh lệch nam - nữ đơn thuần để kết luận có phân biệt đối xử.
Chính nhóm tác giả của tổng quan BMJ Open cũng cảnh báo nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng lẫn lộn hai khái niệm “sex” và “gender”. Trong nghiên cứu y học, giới tính sinh học liên quan đến những đặc điểm sinh lý, hormone, gene hay giải phẫu; còn giới bao gồm những vai trò, kỳ vọng và cách con người được xã hội nhìn nhận. Hai yếu tố có thể tương tác, nhưng không phải là một.
Sự phân biệt này quan trọng vì có hai kiểu sai lệch trái ngược. Một là bỏ qua khác biệt sinh học thực sự giữa nữ và nam. Hai là tưởng tượng ra khác biệt dựa trên định kiến khi bệnh cảnh thực tế tương tự nhau. IASP coi cả hai đều có thể tạo ra thiên lệch trong nghiên cứu và thực hành điều trị đau.
Câu chuyện này nối với vấn đề rộng hơn về chăm sóc sức khỏe phụ nữ: muốn điều trị công bằng, dữ liệu y khoa phải đủ khả năng nhận ra khi nào giới tính thực sự làm thay đổi nguy cơ và khi nào chính định kiến xã hội đang làm thay đổi cách chúng ta nhìn người bệnh.
Việt Nam chưa có dữ liệu để kết luận
Khoảng trống lớn nhất khi đưa nghiên cứu này vào bối cảnh Việt Nam chính là chưa có dữ liệu tương đương để trả lời liệu những khác biệt được ghi nhận ở Bắc Mỹ và châu Âu có xuất hiện trong hệ thống khám chữa bệnh trong nước hay không.
Đây không phải chi tiết phụ. Văn hóa biểu đạt cơn đau, quan hệ giữa người bệnh và nhân viên y tế, mô hình đào tạo, thời gian khám bệnh, hệ thống chuyển tuyến và nguồn lực xét nghiệm đều có thể khác giữa các quốc gia. Chính BMJ Open thừa nhận bằng chứng hiện có thiếu đa dạng về khu vực và văn hóa.
Vì vậy, sẽ thiếu căn cứ nếu từ nghiên cứu quốc tế kết luận bác sĩ Việt Nam đang thiên vị phụ nữ. Hướng tiếp cận phù hợp hơn là coi đây như một giả thuyết về chất lượng dịch vụ cần được kiểm tra bằng dữ liệu Việt Nam.
Pháp luật hiện hành đã đặt ra nguyên tắc rõ. Điều 10 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 quy định người bệnh được tôn trọng về tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, điều kiện kinh tế và địa vị xã hội; không bị kỳ thị, phân biệt đối xử trong quá trình khám chữa bệnh.
Đáng chú ý hơn, khoản 4 Điều 44 yêu cầu người hành nghề phải “đối xử bình đẳng với người bệnh”, không để lợi ích cá nhân hay sự phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quyết định chuyên môn. Như vậy, câu hỏi tiếp theo không chỉ là pháp luật có nguyên tắc bình đẳng hay chưa, mà là hệ thống có cách nào phát hiện những sai lệch vô thức nếu chúng xảy ra hay không.
![]() |
| Định kiến về cách phụ nữ và nam giới biểu đạt cơn đau đều có thể ảnh hưởng quá trình chăm sóc nếu quyết định không dựa trên tiêu chí nhất quán. Ảnh: National Cancer Institute/Wikimedia Commons. |
Muốn biết có công bằng, trước hết phải đo
Một cách tiếp cận khả thi không phải yêu cầu bác sĩ điều trị phụ nữ và nam giới giống hệt nhau. Thay vào đó, cơ sở y tế có thể kiểm tra liệu những người có bệnh cảnh tương đồng có được đánh giá theo những tiêu chí chuyên môn nhất quán hay không.
IASP nhấn mạnh việc đánh giá đau cần dựa trên quá trình có hệ thống, kết hợp thông tin người bệnh tự báo cáo, các thang đo chuẩn hóa, biểu hiện không lời, vị trí và tác động của đau cũng như bối cảnh của từng người. Chuẩn hóa không thay thế phán đoán lâm sàng, nhưng giúp giảm phần quyết định chỉ dựa vào trực giác.
Ở cấp quản trị bệnh viện, dữ liệu có thể được phân tích theo giới nhưng phải đồng thời kiểm soát các yếu tố chuyên môn như chẩn đoán, tuổi, mức độ bệnh và bệnh đi kèm. Chỉ so số thuốc giảm đau của tất cả phụ nữ với tất cả nam giới sẽ tạo ra một phép so sánh thô và thậm chí dẫn tới kết luận sai.
Những chỉ số đáng xem xét có thể gồm thời gian từ lúc tiếp nhận đến khi đánh giá đau, tỷ lệ chỉ định xét nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh trong cùng nhóm bệnh, chuyển chuyên khoa, điều trị giảm đau, tái khám ngoài dự kiến và trải nghiệm do người bệnh tự báo cáo. Nếu một chênh lệch lặp lại sau khi đã tính đến khác biệt bệnh lý, khi đó mới có cơ sở để tìm nguyên nhân.
Đào tạo về định kiến vô thức có thể là một phần của giải pháp; chính tổng quan BMJ Open đề nghị nghiên cứu thêm hiệu quả của hình thức đào tạo này. Nhưng đào tạo đơn lẻ khó đủ nếu không đi cùng quy trình đánh giá đau, kiểm tra chất lượng và dữ liệu phản hồi từ người bệnh.
Bình đẳng giới trong khám chữa bệnh vì thế không phải yêu cầu “cùng một cơn đau phải nhận cùng một viên thuốc”. Điều cần bảo đảm là phụ nữ và nam giới đều được lắng nghe với cùng mức độ nghiêm túc, được đánh giá dựa trên bằng chứng và được điều trị khác nhau khi chuyên môn thực sự đòi hỏi sự khác nhau.
Một nghiên cứu quốc tế chưa thể nói thay thực tế Việt Nam. Nhưng nó cho thấy một nguyên tắc có thể kiểm chứng: nếu hệ thống muốn biết quyết định lâm sàng có công bằng hay không, sự công bằng đó cần được đo chứ không chỉ được giả định.




















Ai có quyền được quyết định việc phụ nữ phải “chịu đựng cơn đau sinh nở"?
Trí tuệ nhân tạo trong cuộc cách mạng hóa chăm sóc sức khỏe phụ nữ
Đưa sàng lọc ung thư vú, cổ tử cung vào diện bảo hiểm y tế: Bước ngoặt trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ
Cùng chuyên mục
Cùng một cơn đau, phụ nữ và nam giới có được đánh giá như nhau?
Vì sao trợ lý ảo thường mang giọng nữ?
Hình nộm tập hồi sức chưa phản ánh đầy đủ cơ thể phụ nữ
Phụ nữ vẫn ít xuất hiện ở vai trò chuyên gia trên báo chí
Những cuộc gặp sau giờ làm có thể bỏ lại phụ nữ phía sau
Ô tô an toàn chưa chắc bảo vệ phụ nữ và nam giới như nhau