![]() |
| Thực hành kỹ thuật hồi sức tim phổi trong khóa hỗ trợ sự sống cơ bản tại Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi, tháng 8/2024. Ảnh: Gavin Arnoldhendershot/U.S. Navy. |
Trong một lớp học hồi sức tim phổi, người học thường quỳ cạnh một hình nộm, xác định vị trí đặt tay, ép ngực và thực hành sử dụng máy khử rung tim tự động. Những thao tác được lặp lại để đến lúc gặp tình huống thật, cơ thể có thể phản ứng nhanh hơn sự do dự. Nhưng nếu gần như mọi lần thực hành đều diễn ra trên một lồng ngực phẳng thì điều gì xảy ra khi người cần cấp cứu là phụ nữ?
Câu hỏi tưởng như nhỏ này đang được nghiên cứu ngày càng nhiều. Không phải kỹ thuật hồi sức tim phổi dành cho phụ nữ là một kỹ thuật khác. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa cơ thể được dùng để tập luyện với cơ thể thật mà người cấp cứu có thể gặp.
Nghiên cứu năm 2024 về thị trường hình nộm CPR cho thấy 95% số mẫu được khảo sát có lồng ngực phẳng. Những nghiên cứu tiếp theo trong năm 2025 và 2026 lại phát hiện hiệu suất thực hành có thể giảm khi người học lần đầu phải thao tác trên mô hình có hình thể nữ.
Đây chưa phải bằng chứng để kết luận hình nộm ngực phẳng là nguyên nhân khiến phụ nữ ngoài đời ít được hồi sức hơn. Nhưng nó đặt ra một câu hỏi rất thực tế về bình đẳng giới trong cấp cứu: nếu muốn mọi người được cứu như nhau, quá trình huấn luyện có đang chuẩn bị người cứu cho nhiều loại cơ thể khác nhau hay không?
Khoảng cách có thể xuất hiện trước khi xe cấp cứu đến
Năm 2025, một nghiên cứu sử dụng cơ sở dữ liệu BASIC-OHCA tại Trung Quốc phân tích 33.333 trường hợp ngừng tim ngoài bệnh viện ở người trưởng thành trong giai đoạn từ tháng 8/2019 đến cuối năm 2020. Trong số đó có 10.650 phụ nữ.
Tỷ lệ được người xung quanh thực hiện hồi sức tim phổi là 19,5% ở nam và 17,3% ở nữ. Sau khi điều chỉnh nhiều yếu tố liên quan, nữ giới vẫn có khả năng nhận CPR thấp hơn. Khoảng cách nổi bật hơn ở phụ nữ từ 18 đến 44 tuổi và những trường hợp ngừng tim có người chứng kiến.
Tuy nhiên, một chi tiết quan trọng xuất hiện trong cùng nghiên cứu: ở những trường hợp người gọi được nhân viên điều phối cấp cứu hướng dẫn CPR qua điện thoại, khác biệt theo giới không còn có ý nghĩa thống kê.
Điều này gợi ý rằng hướng dẫn cụ thể ở đúng thời điểm có khả năng giúp giảm một phần do dự hoặc khác biệt trong phản ứng của người chứng kiến.
Một nghiên cứu tại bang New South Wales, Australia, phân tích 4.491 trường hợp ngừng tim ngoài bệnh viện có người chứng kiến từ năm 2017 đến 2019 cũng ghi nhận phụ nữ có khả năng nhận CPR thấp hơn nam giới cả tại nhà riêng lẫn nơi công cộng. Đặc biệt tại nơi công cộng, việc nhận diện tình trạng ngừng tim trong cuộc gọi cấp cứu ở phụ nữ thấp hơn nam giới, 84,6% so với 91,6%; yếu tố này giải thích một phần đáng kể khoảng cách CPR giữa hai giới.
Nhưng dữ liệu quốc tế không hoàn toàn đi theo một chiều. Nghiên cứu trên 209.901 trường hợp tại Hàn Quốc trong giai đoạn 2009-2019 cho thấy xét toàn bộ mẫu, phụ nữ không nhận CPR ít hơn nam giới. Khoảng cách bất lợi cho phụ nữ chỉ nổi rõ ở một số hoàn cảnh, như khi ngừng tim xảy ra nơi công cộng hoặc người chứng kiến không phải thành viên gia đình.
Một nghiên cứu năm 2026 về các trường hợp ngừng tim liên quan sử dụng thuốc không kê đơn tại British Columbia, Canada thậm chí ghi nhận phụ nữ có khả năng được người xung quanh CPR cao hơn.
Những kết quả khác nhau này rất quan trọng. Chúng ngăn việc biến vấn đề thành một kết luận đơn giản rằng “phụ nữ luôn ít được cứu hơn”. Khoảng cách thay đổi theo quốc gia, địa điểm, nguyên nhân ngừng tim, mối quan hệ với người chứng kiến và hệ thống cấp cứu.
Trong các nguồn được rà soát cho bài này, chưa có bộ dữ liệu quốc gia của Việt Nam đủ để xác định tỷ lệ CPR ngoài bệnh viện theo giới. Vì thế, các con số từ Trung Quốc, Australia hay Hàn Quốc không thể được chuyển thẳng thành thực trạng của Việt Nam.
Điều có thể rút ra là một câu hỏi cần nghiên cứu tại Việt Nam: khi cấp cứu diễn ra trước lúc nhân viên y tế đến, giới của người bệnh có liên quan đến khả năng được nhận diện và được can thiệp hay không?
![]() |
| Thực hành ép ngực trên hình nộm CPR trong một buổi huấn luyện. Ảnh: Raymond Boyington/U.S. Army. |
Người học quen với lồng ngực nào?
Một nhóm nghiên cứu Australia đã khảo sát 20 hình nộm CPR dành cho người lớn của 9 nhà sản xuất trên thị trường toàn cầu. Chỉ một mẫu có đặc điểm ngực nữ; 95% có lồng ngực phẳng. Trong số 20 mẫu, 8 được xác định là nam, 7 không ghi giới và 5 mang tên hoặc được nhận diện là nữ, nhưng chỉ một mẫu nữ có đặc điểm sinh dục thứ cấp ở phần ngực.
Nói cách khác, một hình nộm có tên nữ chưa chắc có hình thể nữ. Điều này được minh họa khá rõ ở Resusci Anne, một trong những hình nộm CPR nổi tiếng nhất. Mẫu này mang tên và khuôn mặt nữ nhưng phần thân truyền thống vẫn là lồng ngực phẳng.
Khoảng cách giữa hình nộm và cơ thể thật sẽ chưa đáng lo nếu người học có thể chuyển kỹ năng từ mô hình này sang mô hình khác hoàn toàn dễ dàng. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy điều đó không phải lúc nào cũng diễn ra trơn tru.
Năm 2025, nhóm nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho 80 sinh viên điều dưỡng thực hành hỗ trợ sự sống cơ bản trên cả mô hình thân nam và thân nữ có ngực.
Khi chuyển sang mô hình nữ, thời gian bắt đầu can thiệp trung vị tăng từ 9 lên 14 giây; tỷ lệ đặt tay đúng giảm từ 97,5% xuống 57,5%; tỷ lệ sử dụng AED đúng giảm từ 98,8% xuống 31,3%. Việc đặt điện cực cũng mất nhiều thời gian hơn. Sau khi được huấn luyện lại với mô hình nữ, một số chỉ số được cải thiện.
Đây là nghiên cứu trên 80 sinh viên tại một trường đại học ở miền bắc Tây Ban Nha, thiết kế một nhóm và thực hiện trong môi trường mô phỏng. Không thể lấy kết quả đó để dự báo một người ngoài đời sẽ phản ứng thế nào trong tình huống cấp cứu thật.
Nhưng nó cho thấy một nguyên tắc khá rõ: kỹ năng đã thành thạo trên một cơ thể giả định chưa chắc tự động được chuyển sang một hình thể ít quen thuộc.
Năm 2026, một thử nghiệm mô phỏng ngẫu nhiên bắt chéo tiếp tục kiểm tra vấn đề với 52 bác sĩ nội trú. Mỗi người thực hiện hai tình huống rung thất trên hình nộm thân nam và thân nữ theo thứ tự khác nhau.
Ở nhóm gặp hình nộm nữ trước, thời gian khử rung chậm hơn khoảng 28 giây, bắt đầu ép tim chậm hơn khoảng 12 giây, đặt điện cực chậm hơn khoảng 15 giây và nhận diện rung thất chậm hơn khoảng 18 giây so với tình huống tương ứng trên hình nộm nam.
Nhưng kết quả này cần đọc rất thận trọng. Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một trung tâm, sử dụng hai loại hình nộm của một nhà sản xuất và có thể chịu ảnh hưởng của hiệu ứng luyện tập giữa hai lượt mô phỏng. Chính nhóm tác giả lưu ý ý nghĩa lâm sàng của những khoảng chậm 10-20 giây riêng lẻ vẫn chưa rõ và mô phỏng không thể tái tạo đầy đủ một ca ngừng tim thật.
Vì vậy, điều hợp lý không phải tuyên bố “hình nộm nam làm phụ nữ mất cơ hội sống”. Bằng chứng hiện nay chưa cho phép khẳng định như vậy.
Điều đáng quan tâm hơn là một khoảng trống huấn luyện đã được nhìn thấy và có thể sửa được.
Đây cũng là câu hỏi tương tự vấn đề cơ thể nào đang được dùng làm chuẩn trong các hệ thống an toàn khác. Khi mô hình kiểm thử hoặc đào tạo chỉ đại diện tốt cho một nhóm người, khả năng áp dụng cho nhóm còn lại cần được kiểm chứng thay vì mặc nhiên giả định.
Ngay cả hình hướng dẫn trên máy AED cũng thiên về nam
Khoảng trống không chỉ nằm ở hình nộm. Một nghiên cứu công bố năm 2026 khảo sát hình minh họa trên các máy khử rung tim tự động, bao bì điện cực và bản thân miếng điện cực được thu thập tại 7 quốc gia từ tháng 5 đến tháng 10/2025.
Trong 51 máy AED có hình hướng dẫn, chỉ 2 máy, tương đương 3,9%, có bất kỳ hình ảnh nữ nào. Phần lớn thể hiện người trưởng thành là nam. Hình nữ cũng rất hiếm trên bao bì và bộ điện cực.
Nghiên cứu không chứng minh rằng một hình vẽ nam trên máy AED trực tiếp khiến người dùng không cứu phụ nữ. Nhưng trong tình huống mà người cấp cứu có thể đang hoảng loạn và phải dựa vào hình minh họa để quyết định vị trí dán điện cực, việc hình ảnh chỉ lặp lại một dạng cơ thể đặt ra vấn đề về thiết kế thông tin.
![]() |
| Resusci Anne là hình nộm được sử dụng phổ biến trong đào tạo hồi sức tim phổi. Ảnh: ~aorta~/Wikimedia Commons, CC BY 2.0. |
Điểm này còn quan trọng bởi hồi sức cho người lớn không thay đổi nguyên tắc chỉ vì người bệnh là phụ nữ.
Hướng dẫn hỗ trợ sự sống cơ bản dành cho người lớn năm 2025 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ áp dụng cho người trưởng thành nói chung. Ép tim cần được thực hiện ở trung tâm ngực, với độ sâu ít nhất khoảng 5 cm nhưng tránh vượt quá 6 cm và tốc độ từ 100 đến 120 lần mỗi phút. Việc sử dụng AED sớm cũng là một phần của chuỗi cấp cứu.
Khác biệt nằm ở khả năng người cứu có thực hành đủ để nhận biết mốc giải phẫu và thao tác với quần áo, mô vú cũng như vị trí điện cực mà không do dự hay không.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe phụ nữ, nhiều khoảng trống trước đây chỉ được nhận ra khi người ta đặt câu hỏi liệu dữ liệu, thiết bị và quy trình đang phục vụ một cơ thể “mặc định” hay nhiều loại cơ thể thực tế.
Huấn luyện cho cơ thể thật thay vì cơ thể mặc định
Giải pháp không nhất thiết là loại bỏ toàn bộ hình nộm hiện có và mua một hệ thống mới. Một khảo sát quốc tế về hơn 5.000 hình nộm tại 133 tổ chức đào tạo hỗ trợ sự sống cơ bản ở 43 quốc gia cho thấy chỉ khoảng 20% tổ chức báo cáo sử dụng hình nộm nữ. Chi phí, nhận thức hạn chế về nhu cầu đa dạng hóa và sức ỳ của tổ chức là những rào cản được ghi nhận. Gần một phần năm đơn vị tham gia khảo sát cho biết họ từng mặc áo ngực cho hình nộm tiêu chuẩn để mô phỏng cơ thể nữ. Điều đó cho thấy có nhiều mức can thiệp khác nhau.
Các chương trình huấn luyện có thể chủ động đưa nhiều dạng thân người vào kịch bản; bổ sung mô hình hoặc lớp phủ mô phỏng ngực nữ; cho người học thực hành cả ép tim và đặt điện cực AED trên cơ thể nữ; thay đổi thứ tự hình nộm để người học không hình thành một “cơ thể mặc định”; đồng thời sử dụng tình huống có người bệnh ở nhiều độ tuổi và thể trạng.
Quan trọng hơn, giảng viên cần nói thẳng về lý do của những bài tập này. Mục đích không phải tạo ra “CPR dành riêng cho phụ nữ” mà làm cho cùng một kỹ năng cấp cứu có thể được thực hiện nhanh và chính xác trên nhiều cơ thể.
Kết quả từ Trung Quốc cũng gợi mở một giải pháp ở tầng hệ thống. Khoảng cách giới trong CPR không được ghi nhận ở nhóm trường hợp người gọi nhận hướng dẫn CPR từ điều phối viên cấp cứu. Đây chưa phải bằng chứng nhân quả rằng hướng dẫn qua điện thoại sẽ xóa mọi chênh lệch, nhưng cho thấy quy trình điều phối chuẩn hóa đáng được nghiên cứu như một công cụ giảm do dự của người chứng kiến.
Với Việt Nam, trước khi nói tới một chương trình can thiệp quy mô lớn, có hai khoảng trống dữ liệu cần được lấp.
*Thứ nhất là dữ liệu cấp cứu ngừng tim ngoài bệnh viện được phân tách theo giới, địa điểm xảy ra, người chứng kiến, CPR và sử dụng AED. Không có dữ liệu này, rất khó biết Việt Nam có cùng mô hình bất lợi như một số quốc gia hay không.
*Thứ hai là khảo sát chính môi trường đào tạo: các cơ sở y tế, trường đại học, chương trình sơ cấp cứu cộng đồng đang sử dụng loại hình nộm nào và người học có được thực hành trên hình thể nữ hay không. Đây là những việc có thể đo được.
Nếu người học thực hiện tốt tương đương trên cả hai dạng cơ thể, đó là bằng chứng tốt cho chương trình đào tạo. Nếu thời gian phản ứng, vị trí đặt tay hoặc thao tác AED thay đổi rõ rệt khi chuyển sang thân nữ, khóa học đã tìm được một điểm cần sửa trước khi người học phải đối diện với tình huống thật.
Bình đẳng giới trong trường hợp này không phải ưu tiên cứu một phụ nữ trước một người đàn ông. Mục tiêu đơn giản hơn nhiều: giới của người đang nằm bất tỉnh không nên tạo ra một sự chậm trễ không cần thiết trong hành động cứu người.
Vài phút đầu của một ca ngừng tim là lúc không còn nhiều chỗ cho việc “lần đầu mới gặp”.
Nếu xã hội muốn người dân sẵn sàng cứu bất kỳ ai, lớp học cấp cứu cũng cần chuẩn bị họ cho bất kỳ cơ thể nào họ có thể gặp ngoài đời.
Ba điểm không thay đổi khi người cần CPR là phụ nữ
Hướng dẫn CPR cho người trưởng thành không đặt ra một kỹ thuật ép tim riêng theo giới. Với người lớn bị ngừng tim, các nguyên tắc cốt lõi về nhận diện, gọi hệ thống cấp cứu, ép tim chất lượng cao và sử dụng AED vẫn được áp dụng.
Hướng dẫn AHA 2025 khuyến nghị ép ngực ở người trưởng thành với tốc độ khoảng 100-120 lần/phút, độ sâu ít nhất 5 cm và tránh sâu quá 6 cm.
Hình thể nữ không phải lý do để trì hoãn cấp cứu. Khác biệt cần được xử lý trong đào tạo là giúp người cứu quen xác định mốc giải phẫu và thao tác với AED trên nhiều hình thể. Việc học thực hành CPR trực tiếp vẫn cần được thực hiện theo chương trình sơ cấp cứu chuyên môn.



















Ô tô an toàn chưa chắc bảo vệ phụ nữ và nam giới như nhau
Trí tuệ nhân tạo trong cuộc cách mạng hóa chăm sóc sức khỏe phụ nữ
Bình đẳng giới không phải ưu ái, mà là trao cơ hội ngang bằng
Cùng chuyên mục
Cùng một cơn đau, phụ nữ và nam giới có được đánh giá như nhau?
Vì sao trợ lý ảo thường mang giọng nữ?
Hình nộm tập hồi sức chưa phản ánh đầy đủ cơ thể phụ nữ
Phụ nữ vẫn ít xuất hiện ở vai trò chuyên gia trên báo chí
Những cuộc gặp sau giờ làm có thể bỏ lại phụ nữ phía sau
Ô tô an toàn chưa chắc bảo vệ phụ nữ và nam giới như nhau