Từ năm 2026, hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp trong trường học bước sang một giai đoạn mới. Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035 đặt mục tiêu 95% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia ít nhất một khóa học kỹ năng khởi nghiệp. Mỗi năm, ít nhất 70 dự án khởi nghiệp của nhà giáo và người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, trong đó tối thiểu 35% dự án có nữ tham gia.
Những con số này cho thấy giáo dục khởi nghiệp đang được mở rộng từ các cuộc thi và hoạt động ngoại khóa thành một phần có quy mô lớn hơn trong môi trường đào tạo. Nhưng nếu muốn hiểu một nữ sinh viên có thực sự nghĩ đến việc trở thành người khởi nghiệp hay không, số khóa học đã tham gia mới chỉ là một phần của câu chuyện.
![]() |
| Đội DanangBooth nhận Giải Nhất bảng Sinh viên tại Startup Runway 2026. Ảnh minh họa hoạt động khởi nghiệp của sinh viên, không phải người tham gia nghiên cứu trong bài. Ảnh: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. |
Một nghiên cứu năm 2026 đăng trên tạp chí Gender in Management: An International Journal đã khảo sát 869 nữ sinh viên tại các trường đại học Việt Nam để tìm hiểu vấn đề này. Nhóm nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hỗn hợp, xây dựng mô hình và thang đo từ tài liệu cùng các cuộc phỏng vấn trước khi phân tích dữ liệu khảo sát. Bên cạnh giáo dục khởi nghiệp, nghiên cứu đưa vào mô hình thái độ đối với khởi nghiệp, niềm tin vào khả năng thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp, chuẩn chủ quan và định kiến giới.
Một khóa học tác động qua nhiều lớp nhận thức
Kết quả cho thấy giáo dục khởi nghiệp có mối liên hệ trực tiếp với ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên trong mô hình nghiên cứu. Tuy nhiên, phần đáng chú ý nằm ở các mối liên hệ gián tiếp. Giáo dục khởi nghiệp còn gắn với những yếu tố nhận thức như thái độ, niềm tin vào năng lực bản thân và biến số liên quan đến định kiến giới, trong khi những yếu tố này tiếp tục có quan hệ với ý định khởi nghiệp.
Cách đọc này khác với việc coi một khóa học chủ yếu là nơi truyền kiến thức về lập kế hoạch kinh doanh, tài chính hay tiếp thị. Với người học, quá trình tiếp xúc với khởi nghiệp còn có thể gắn với cách họ đánh giá lựa chọn nghề nghiệp đó và cách họ nhìn nhận khả năng của chính mình khi phải nhận diện cơ hội, tổ chức nguồn lực hoặc đưa một ý tưởng vào thực tế. Trong nghiên cứu, niềm tin vào năng lực không phải nhận xét chung rằng nữ sinh viên “tự tin” hay “thiếu tự tin”, mà là một cấu phần được đo lường trong mô hình về ý định khởi nghiệp.
Định kiến giới cũng xuất hiện như một biến có ý nghĩa trong mô hình. Tuy nhiên, kết quả này không cho phép nói rằng mọi nữ sinh viên đều gặp định kiến, càng không thể kết luận một định kiến cụ thể đang ngăn họ khởi nghiệp nếu chưa có dữ liệu tương ứng. Giá trị của nghiên cứu nằm ở việc đưa yếu tố giới vào cùng giáo dục và các nhận thức cá nhân, qua đó cho thấy việc tìm hiểu con đường từ lớp học tới ý định khởi nghiệp không nên chỉ dừng ở lượng kiến thức được cung cấp.
Một kết quả khác cần được đọc đúng phạm vi là chuẩn chủ quan, tức cảm nhận về kỳ vọng của những người quan trọng xung quanh, không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với ý định khởi nghiệp trong mô hình này. Điều đó không có nghĩa gia đình, bạn bè hay môi trường xã hội không quan trọng đối với mọi nữ sinh viên. Nó chỉ cho biết biến số được đo theo cách của nghiên cứu không tạo ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê sau khi được đặt cùng các yếu tố khác trong mô hình.
![]() |
| Sinh viên tham quan, trao đổi tại không gian trưng bày ý tưởng và sản phẩm trong chuỗi hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đầu năm 2026. Ảnh minh họa, không phải người tham gia nghiên cứu. Ảnh: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. |
Nghiên cứu cũng không phải một phép so sánh giữa nữ và nam. Toàn bộ 869 người tham gia đều là nữ sinh viên. Vì vậy, từ kết quả này không thể nói nữ sinh viên có ý định khởi nghiệp thấp hơn nam sinh viên, chịu định kiến nhiều hơn nam hay phản ứng với giáo dục khởi nghiệp khác nam. Muốn trả lời các câu hỏi so sánh đó cần một thiết kế nghiên cứu khác có cả hai nhóm và kiểm soát những đặc điểm liên quan.
Một giới hạn khác nằm ngay trong khái niệm được đo. Ý định khởi nghiệp chưa phải là một doanh nghiệp đã được thành lập. Một người có thể muốn khởi nghiệp nhưng chưa đưa dự án vào ươm tạo, chưa tìm vốn hoặc sau đó chọn một con đường nghề nghiệp khác. Do đó, nghiên cứu giúp nhìn rõ hơn một giai đoạn trước hành động chứ không chứng minh giáo dục hay thay đổi nhận thức sẽ tự động tạo ra doanh nghiệp mới.
Từ người tham gia đến người thực sự đi tiếp
Sự phân biệt này có ý nghĩa khi các chương trình hỗ trợ đang mở rộng. Mục tiêu 95% sinh viên được học hoặc tiếp cận kỹ năng khởi nghiệp cho biết quy mô bao phủ có thể được đo khá rõ. Chỉ tiêu ít nhất 35% dự án được đầu tư hoặc kết nối vốn có nữ tham gia cũng tạo ra một mốc để theo dõi sự hiện diện của nữ giới ở một bước xa hơn trong quá trình phát triển dự án.
Giữa hai điểm ấy vẫn còn một quãng đường dài. Người học có thể hoàn thành khóa học nhưng không hình thành ý tưởng. Một ý tưởng có thể không bước vào chương trình ươm tạo. Một dự án được ươm tạo chưa chắc tiếp cận được nguồn vốn, còn việc được kết nối vốn cũng chưa đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ tồn tại trên thị trường. Nếu dữ liệu thực thi sau này được tách theo giới ở từng chặng, sẽ có thêm cơ sở để biết nữ sinh viên xuất hiện ở đâu trong chuỗi này và tỷ lệ tiếp tục sang bước tiếp theo ra sao.
Câu hỏi về cách đo càng có tính thời sự khi Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035 đang bước vào triển khai. Cuối tháng 9/2026, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam bắt đầu xây dựng bộ công cụ theo dõi, đánh giá nhằm chuyển các mục tiêu và nhiệm vụ của đề án thành hệ thống chỉ số, biểu mẫu và quy trình thu thập dữ liệu. Đây là một quá trình khác với chương trình khởi nghiệp trong trường học, nhưng cùng đặt ra yêu cầu phải phân biệt giữa số người được tiếp cận hỗ trợ và kết quả xuất hiện sau hỗ trợ.
![]() |
| Sinh viên Đại học Đà Nẵng tại hoạt động kết nối nguồn lực cho các dự án khởi nghiệp. Dự án Shieldnet của sinh viên nhà trường từng được hỗ trợ 25.000 USD vốn mồi từ UniVentures. Ảnh minh họa, không phải người tham gia nghiên cứu. Ảnh: Đại học Đà Nẵng. |
Với nữ sinh viên, việc nhìn vào thái độ, niềm tin vào năng lực hay định kiến giới không nên biến thành yêu cầu họ phải tự thay đổi để thích nghi với môi trường khởi nghiệp. Nếu một người chưa muốn khởi nghiệp, đó cũng không phải bằng chứng về sự thiếu hụt năng lực. Khởi nghiệp chỉ là một trong nhiều lựa chọn nghề nghiệp. Giá trị của góc nhìn giới nằm ở việc xác định liệu những người có mong muốn và năng lực theo đuổi lựa chọn này có gặp những rào cản khác nhau trong quá trình học, ươm tạo dự án, tiếp cận cố vấn hay nguồn vốn hay không.
Khi giáo dục khởi nghiệp được đưa tới phần lớn sinh viên, số lượng người tham gia lớp học sẽ ngày càng ít nói lên toàn bộ câu chuyện. Nghiên cứu với 869 nữ sinh viên gợi ra một lớp dữ liệu khác cần được quan sát, từ cách người học nhìn nhận khởi nghiệp đến niềm tin vào khả năng thực hiện những công việc cụ thể và ảnh hưởng của những khuôn mẫu giới trong môi trường xung quanh. Còn để biết những yếu tố ấy có chuyển thành hành động và cơ hội thực tế hay không, cần tiếp tục theo dõi hành trình từ ý định, dự án, ươm tạo đến vốn và thị trường.



















Triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035
Lâm Đồng tiếp sức phụ nữ khởi nghiệp trong thời đại số
Nữ sinh Dược chinh phục giải Nhất khởi nghiệp từ khát vọng tạo giá trị cho cộng đồng
Tổng Giám đốc Mã Thanh Loan: Chính sách mở đường, năng lực quyết định phụ nữ khởi nghiệp đi xa đến đâu
Cùng chuyên mục
Đi du lịch có phải là lựa chọn như nhau với phụ nữ và nam giới?
Khởi nghiệp của nữ sinh viên không chỉ bắt đầu từ khóa học
Khoảng cách giới hiện rõ ở nhóm thanh niên ngoài việc làm và đào tạo
Nữ nhà báo và những rào cản trên đường phát triển nghề
Có tài khoản chưa nói hết khoảng cách giới trong tài chính
Việc nhà trên mạng xã hội kể gì về vai trò giới