![]() |
| Loạt chính sách mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tác động tới nhà khoa học. Ảnh minh họa |
Từ cuối năm 2025, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính thức đi vào thực tiễn, kéo theo các nghị định hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định 263 và Nghị định 265. Hệ thống chính sách mới không chỉ điều chỉnh kỹ thuật quản lý mà còn đặt lại nền tảng vận hành của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Thay đổi dễ nhận thấy nhất nằm ở cơ chế tiền lương. Nếu trước đây thu nhập của viên chức khoa học bị ràng buộc bởi hệ số ngạch, bậc và giới hạn “trần lương” gấp hai, ba lần lương nhà nước, thì nay cơ chế này được bãi bỏ. Các tổ chức được quyền tự chủ xây dựng quy chế chi trả lương và thu nhập trên cơ sở công khai, dân chủ, sử dụng nguồn thu hợp pháp để trả lương tương xứng cho người làm khoa học.
Thu nhập không còn phụ thuộc chủ yếu vào thâm niên mà gắn trực tiếp với vị trí việc làm, nhiệm vụ được giao và hiệu quả công việc. Cơ cấu chi trả gồm lương cơ bản, lương tự chủ của tổ chức, thu nhập tăng thêm và phần thu nhập từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Sự chuyển dịch này được đánh giá là bước tiến quan trọng nhằm đưa hoạt động khoa học tiệm cận cơ chế thị trường, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và đề cao giá trị sản phẩm đầu ra.
Cùng với đó, quyền tự chủ trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực cũng được mở rộng. Khi rào cản tài chính được tháo gỡ, các tổ chức khoa học và công nghệ có thể chủ động thiết kế các gói đãi ngộ linh hoạt, bao gồm lương, nhà ở và điều kiện làm việc. Cơ chế “vượt khung” này tạo điều kiện để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, thậm chí chuyên gia quốc tế, tham gia làm việc lâu dài tại Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, đây được xem là bước đi chiến lược.
Bên cạnh cải cách nhân sự là thay đổi mạnh mẽ về tài chính. Theo Nghị định 265, việc phân bổ ngân sách cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sẽ căn cứ vào kết quả hoạt động. Kinh phí có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm trong biên độ 10%, tùy theo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Cách làm này nhằm tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hạn chế tình trạng phân bổ dàn trải.
Đáng chú ý, ngân sách cho nghiên cứu và phát triển được ưu tiên thực hiện qua cơ chế quỹ thay vì cấp phát trực tiếp cho từng nhiệm vụ như trước. Các quỹ như Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và quỹ của bộ, ngành, địa phương sẽ là kênh đặt hàng, tài trợ và cấp phát nhiệm vụ. Cơ chế quỹ được kỳ vọng tạo sự linh hoạt, tăng quyền chủ động cho nhà khoa học và tổ chức chủ trì.
Một điểm mới mang tính tư duy là việc thừa nhận rủi ro khách quan trong nghiên cứu khoa học. Chính sách quy định, nếu đề tài không đạt mục tiêu ban đầu do nguyên nhân khách quan và tổ chức chủ trì đã thực hiện đúng quy trình, thì không phải hoàn trả kinh phí, đồng thời được miễn trách nhiệm dân sự, kể cả trách nhiệm hình sự. Tinh thần này tiếp tục được nhấn mạnh tại Nghị định 267, thể hiện định hướng chuyển từ quản lý thuần túy theo tuân thủ sang quản lý dựa trên rủi ro.
Tuy nhiên, việc chấp nhận rủi ro không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Ngay từ khâu đề xuất, tuyển chọn nhiệm vụ đã có cơ chế kiểm soát chặt chẽ; quá trình thực hiện được giám sát tiến độ và giải ngân theo kết quả. Nếu thất bại xuất phát từ nguyên nhân chủ quan như vi phạm nghĩa vụ, chậm tiến độ hoặc sử dụng sai kinh phí, cơ quan quản lý sẽ thu hồi ngân sách và áp dụng biện pháp xử lý theo quy định.
Đặc biệt, lần đầu tiên tỷ lệ phân chia lợi nhuận cho nhà khoa học khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu được quy định cụ thể trong luật. Theo Điều 28 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tác giả thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận từ việc cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng hoặc tự khai thác kết quả. Trường hợp kết quả được dùng để góp vốn, liên doanh, liên kết hay thành lập doanh nghiệp, mức thưởng cũng không thấp hơn 30% giá trị tương ứng.
Nếu có nhiều đồng tác giả, việc phân chia sẽ do các bên tự thỏa thuận. Phần lợi nhuận còn lại được sử dụng để khen thưởng những cá nhân tham gia thương mại hóa và tái đầu tư cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nhìn tổng thể, hành lang pháp lý mới cho thấy nỗ lực chuyển đổi mô hình quản lý khoa học theo hướng trao quyền nhiều hơn cho tổ chức và cá nhân, gắn trách nhiệm với hiệu quả, đồng thời bảo đảm lợi ích xứng đáng cho người trực tiếp sáng tạo ra tri thức. Khi cơ chế lương, tài chính và phân chia lợi ích được thiết kế lại, môi trường làm khoa học được kỳ vọng sẽ năng động hơn, thu hút được nhân lực tinh hoa và tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao.
















Loạt chính sách khoa học – công nghệ mới có hiệu lực từ năm 2026
Trí thức, nhà khoa học là nền tảng bảo đảm độc lập, tự chủ bằng trí tuệ Việt Nam
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đón Huân chương Lao động hạng Nhất
Nữ nhà khoa học kết nối tự động hóa với nông nghiệp bền vững
TS.BS Nguyễn Thị Phương Thảo: Giữ nhịp yêu thương giữa khoa học và gia đình
Cùng chuyên mục
Ra mắt sách “Rạng rỡ Việt Nam” tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng
Nhà khoa học được trao quyền và hưởng lợi trực tiếp từ kết quả nghiên cứu
Từ đỉnh cao Fansipan đến Đảo Ngọc Phú Quốc: Một kỳ nghỉ Tết lịch sử của ngành du lịch Việt
Trí thức, nhà khoa học là nền tảng bảo đảm độc lập, tự chủ bằng trí tuệ Việt Nam
Sân bay chuyển giao cho Sun Group vận hành ra sao khi liên tục đón lượng khách kỷ lục?
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đón Huân chương Lao động hạng Nhất