Ba nhà khoa học nữ, PGS.TS Nguyễn Phi Lê, TS. Nguyễn Thu Hương, PGS.TS Nguyễn Cẩm Tú đang đi những con đường khác nhau, làm việc trong những môi trường học thuật khác nhau nhưng điểm chung của họ là niềm say mê khoa học và khát vọng dùng công nghệ để giải quyết những vấn đề của đời sống.
Nữ thủ lĩnh của một viện nghiên cứu AI tại Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Phi Lê không có vẻ ngoài khiến người ta nghĩ đến một nhà khoa học công nghệ. Chị nhỏ nhắn, nói chuyện nhẹ nhàng. Nhưng phía sau dáng vẻ ấy là người đang dẫn dắt một tập thể nghiên cứu lớn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Phi Lê trong chuyến đi thực địa nghiên cứu ứng dụng AI trong môi trường ở Thanh Hóa. Ảnh: NVCC |
Hiện chị là Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI4LIFE thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhiều người trong giới nghiên cứu gọi chị là “nữ tướng” của một lĩnh vực vốn quy tụ phần lớn nhân lực nam.
Con đường khoa học của chị bắt đầu từ toán học. Khi còn là học sinh, chị là một trong số ít nữ sinh được chọn vào đội tuyển quốc gia dự kỳ thi International Mathematical Olympiad và giành huy chương bạc năm 2000.
Sau một năm học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, chị nhận học bổng của Chính phủ Nhật Bản sang học công nghệ thông tin tại Đại học Tokyo. Học xong thạc sĩ, chị trở về Việt Nam làm việc trong doanh nghiệp. Nhưng chỉ sau một thời gian, chị nhận ra môi trường học thuật mới là nơi mình thuộc về.
Chị quay lại giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Bách khoa Hà Nội rồi tiếp tục sang Nhật làm nghiên cứu sinh. Chị nhanh chóng trở thành gương mặt nổi bật của cộng đồng AI trong nước. Những dự án chị thực hiện không nhằm phô diễn công nghệ mà hướng tới những vấn đề cụ thể của xã hội. Nhóm của chị đã phát triển hệ thống hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người Việt, chatbot tư vấn y tế, hay các công cụ giúp bác sĩ phân tích dữ liệu bệnh án.
Một dự án khác đang được thử nghiệm là dùng AI để tạo ảnh PET từ dữ liệu CT nhằm hỗ trợ phát hiện sớm ung thư. Công nghệ này có thể giúp nhiều bệnh viện địa phương giảm chi phí xét nghiệm cho bệnh nhân.
Trong nhóm nghiên cứu gần 80 người của chị, số nữ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng với chị, điều đó không phải rào cản. “Trong nghiên cứu, ai làm tốt sẽ được ghi nhận. Công việc khoa học không phân biệt nam hay nữ”, chị nói.
Từ cô sinh viên nghèo đến nữ tiến sĩ AI ở Nga
Nếu con đường của Nguyễn Phi Lê gắn với môi trường học thuật trong nước thì hành trình của TS. Nguyễn Thu Hương lại bắt đầu từ những khó khăn rất đời thường. Chị sinh ra tại Yên Bái, lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn. Bố mất khi chị mới 5 tuổi. Mẹ làm công nhân nuôi bốn anh chị em ăn học.
![]() |
| TS Nguyễn Thu Hương nghiên cứu trí tuệ nhân tạo tại Đại học Nghiên cứu tổng hợp kỹ thuật quốc gia Irkutsk (Nga), sở hữu hai bản quyền công nghệ và nhiều công bố khoa học quốc tế. |
Nhưng ngay từ nhỏ, chị đã say mê những thí nghiệm khoa học và máy tính. Khi học tại Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông - Đại học Thái Nguyên, chị bắt đầu tham gia nghiên cứu từ năm đầu.
Sau khi tốt nghiệp, chị được giữ lại làm giảng viên. Công việc ổn định nhưng niềm say mê nghiên cứu khiến chị quyết định một bước đi mạo hiểm. Chị đăng ký học bổng sang Nga làm nghiên cứu sinh, dù khi đó chưa biết tiếng Nga.
Những ngày đầu ở Nga vô cùng khó khăn. Ngôn ngữ xa lạ, môi trường nghiên cứu khắc nghiệt. Nhưng một câu nói của giáo sư hướng dẫn đã giúp chị vững tin: trong khoa học, người ta luôn tìm được tiếng nói chung. Ngay trong năm đầu học tiếng, chị đã thực hiện đề tài về hệ thống tự động phát hiện khuyết tật trên đường giao thông. Công trình này giành giải nhất tại Festival khoa học toàn Nga dành cho nhà phát minh trẻ.
Nghiên cứu sau đó được phát triển thành luận án tiến sĩ và mang lại cho chị hai bản quyền sở hữu trí tuệ tại Nga. Hệ thống của chị đã được thử nghiệm tại tỉnh Irkutsk và tại Bồ Đào Nha.
Hành trình bảo vệ luận án kéo dài sáu năm với nhiều thử thách. Có thời điểm chị phải tranh luận gay gắt với chính giáo sư hướng dẫn để bảo vệ hướng nghiên cứu của mình. Nhưng cuối cùng, chị đã bảo vệ thành công trước hội đồng khoa học của Trường Đại học Quốc gia Baikal với sự phản biện của các chuyên gia công nghệ hàng đầu. Khi nhận kết quả, chị ôm lấy người hướng dẫn và khóc như một đứa trẻ.
Hiện nay, chị tiếp tục nghiên cứu tại Đại học Nghiên cứu tổng hợp kỹ thuật quốc gia Irkutsk, đồng thời tham gia giảng dạy cho sinh viên Việt Nam. Nhiều dự án của chị đang hướng tới việc ứng dụng AI trong giao thông và năng lượng. “Việt Nam mới là nền tảng giúp tôi có ngày hôm nay”, chị nói.
Nhà khoa học Việt giảng dạy AI tại Trung Quốc
Ở một môi trường học thuật khác, Nguyễn Cẩm Tú lại đang góp phần đào tạo thế hệ chuyên gia AI mới. Chị hiện là phó giáo sư tại Trường Trí tuệ nhân tạo của Đại học Nam Kinh, một trong những trường đại học hàng đầu Trung Quốc.
![]() |
| PGS Nguyễn Cẩm Tú giảng dạy tại Trường Trí tuệ nhân tạo của Đại học Nam Kinh, nghiên cứu các hệ thống AI có khả năng đối thoại với con người. |
Niềm yêu thích toán học đã theo chị từ những năm phổ thông tại Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên. Sau đó chị học công nghệ thông tin tại Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội và trở thành thủ khoa của khóa.
Sau một năm làm việc trong doanh nghiệp công nghệ, chị nhận ra mình muốn theo đuổi con đường nghiên cứu. Chị học tiếp thạc sĩ rồi sang Nhật Bản làm nghiên cứu sinh tại Đại học Tohoku. Tại Nhật, chị có cơ hội làm việc với các dự án trí tuệ nhân tạo và tham gia một số chương trình nghiên cứu tại Google Japan. Sau khi hoàn thành tiến sĩ, chị chuyển sang Trung Quốc làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Nam Kinh.
Lĩnh vực chị theo đuổi là trí tuệ hội thoại, một nhánh của AI giúp máy tính hiểu và phản hồi ngôn ngữ con người. Các nghiên cứu của chị đã được công bố tại nhiều hội nghị khoa học quốc tế và được ứng dụng trong các hệ thống chatbot.
Chị cũng tham gia xây dựng chương trình đào tạo cho Trường Trí tuệ nhân tạo của Đại học Nam Kinh, một trong những cơ sở đào tạo AI đầu tiên tại Trung Quốc. Trong đó có môn học đặc biệt về đạo đức AI, bàn về tác động của công nghệ đối với xã hội.
Điều khiến chị tự hào nhất không phải là các công bố khoa học, mà là thành công của sinh viên. Nhiều học trò của chị hiện làm việc tại các tập đoàn công nghệ lớn như Microsoft, Huawei hay ByteDance. “Làm nghiên cứu là một hành trình dài. Mỗi ngày chỉ cần tiến lên một chút”, chị chia sẻ.
Khi phụ nữ bước vào trung tâm của kỷ nguyên AI
Trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách con người làm việc, học tập và chăm sóc sức khỏe. Nhưng phía sau những thuật toán phức tạp ấy là những con người kiên trì viết từng dòng code, thử nghiệm từng mô hình, sửa từng sai số nhỏ. Những câu chuyện của Nguyễn Phi Lê, Nguyễn Thu Hương và Nguyễn Cẩm Tú cho thấy phụ nữ hoàn toàn có thể đứng ở tuyến đầu của cuộc cách mạng công nghệ này.
Họ không chọn con đường dễ dàng. Họ đi qua những năm tháng học tập khắc nghiệt, những phòng thí nghiệm đầy áp lực, những cuộc tranh luận học thuật căng thẳng. Nhưng chính sự bền bỉ ấy đã giúp họ khẳng định vị thế của mình.
Trong kỷ nguyên AI ứng dụng, khoa học không còn là câu chuyện của riêng một giới. Khi phụ nữ bước vào trung tâm của những phòng nghiên cứu, những dòng code họ viết ra không chỉ tạo nên công nghệ mới. Chúng còn mở thêm những cánh cửa cho thế hệ trẻ tin rằng tri thức luôn thuộc về những người dám theo đuổi nó.





















PGS.TS Vũ Bích Ngọc: Người mở những cánh cửa mới của y học tái tạo
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà: Gieo tri thức từ phòng thí nghiệm đến giảng đường
PGS.TS Ngô Tuyết Mai và hành trình của một nhà giáo Việt trên giảng đường quốc tế
Hành trình bền bỉ của PGS.TS Phạm Thị Vân Anh: Từ bục giảng đến tuyến đầu vaccine
Nữ Tiến sĩ trẻ tạo phần mềm AI chẩn đoán bệnh Alzheimer
Bong bóng AI chưa vỡ, ngành công nghiệp phần mềm đã tan vỡ vì AI
Cùng chuyên mục
Những nữ tiến sĩ Việt Nam trong kỷ nguyên AI: Khi những thuật toán mở ra con đường khoa học toàn cầu
Ba nữ tiến sĩ gốc Việt tỏa sáng trên giảng đường quốc tế
Đại sứ Nguyễn Thị Hồi và câu chuyện về bức chân dung Tổng thống Áo cùng 6 bông hồng
TS. Trần Thị Hiền nghiên cứu thuốc điều trị ung thư từ sữa mẹ
PGS.TS Vũ Bích Ngọc: Người mở những cánh cửa mới của y học tái tạo
TS. Jayshree Seth: Khi phụ nữ lãnh đạo khoa học không còn là “ngoại lệ”