![]() |
| PGS.TS Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội |
Phát biểu tại Hội thảo quốc tế "Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số" diễn ra mới đây tại Hà Nội, PGS.TS Bùi Thị An cho rằng vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn hiện nay là vì sao nhiều kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam vẫn chưa thể đi vào thị trường, mặc dù đội ngũ nhà khoa học có năng lực chuyên môn và nhiều công trình đạt giá trị học thuật. Theo bà, câu hỏi đặt ra không chỉ là làm thế nào để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu mà còn phải xác định rõ những điểm nghẽn đang cản trở quá trình này và vị trí của Việt Nam trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Theo PGS.TS Bùi Thị An, nguyên nhân đầu tiên xuất phát ngay từ khâu xác định đề tài nghiên cứu. Nhiều nhiệm vụ khoa học chưa được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của thị trường mà chủ yếu theo cơ chế phân bổ nhiệm vụ và nguồn kinh phí hiện có. Khi đầu vào không gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội thì đầu ra cũng khó tìm được nơi ứng dụng. "Thương mại hóa phải bắt đầu từ nhu cầu của thị trường. Thị trường cần gì thì mình nghiên cứu cái đó, có như vậy sản phẩm mới có cơ hội đi vào cuộc sống", bà nói.
Bà cho rằng một hạn chế khác là nguồn lực đầu tư còn phân tán. Kinh phí nghiên cứu thường được chia nhỏ cho nhiều đề tài, trong khi nhiều nhiệm vụ cần được đầu tư đủ lớn và theo đuổi đến cùng mới có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Không ít công trình sau khi nghiệm thu chỉ dừng lại ở kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà chưa có điều kiện hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm hoặc phát triển thành sản phẩm thương mại. Chính khoảng trống này khiến nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học nhưng không thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
![]() |
Theo PGS.TS Bùi Thị An, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở năng lực của các nhà khoa học mà ở cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học, công nghệ. Bà cho rằng các cơ quan quản lý vẫn còn tâm lý e ngại rủi ro nên chưa mạnh dạn giao những nhiệm vụ lớn cho các nhóm nghiên cứu có năng lực, đồng thời cũng chưa tập trung nguồn lực cho những đề tài có khả năng tạo ra sản phẩm. Thay vào đó, kinh phí thường được phân bổ dàn trải để nhiều đơn vị cùng tham gia, dẫn đến thiếu những dự án được đầu tư đủ chiều sâu.
Nhắc lại một cuộc làm việc nhiều năm trước với lãnh đạo Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ, PGS.TS Bùi Thị An cho biết bà từng đặt câu hỏi về tổng kinh phí Nhà nước đã đầu tư cho nghiên cứu khoa học và có bao nhiêu kết quả nghiên cứu thực sự được ứng dụng vào thực tiễn. Theo bà, đây vẫn là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc để đánh giá hiệu quả đầu tư cho khoa học trên cơ sở giá trị mà các công trình nghiên cứu tạo ra đối với nền kinh tế và xã hội, thay vì chỉ tính bằng số lượng đề tài được nghiệm thu.
Một rào cản khác là nhiều sản phẩm nghiên cứu không có đơn vị đặt hàng hoặc doanh nghiệp đồng hành ngay từ đầu. Vì vậy, sau khi hoàn thành nghiên cứu, sản phẩm khó vượt qua giai đoạn thử nghiệm để bước vào sản xuất. Theo bà, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường sẽ rất khó được thu hẹp nếu thiếu những cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Từ thực tế đó, PGS.TS Bùi Thị An cho rằng Nhà nước cần đóng vai trò hỗ trợ trong giai đoạn đầu của quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bên cạnh việc đặt hàng các nhiệm vụ khoa học gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cần có cơ chế bảo lãnh hoặc hỗ trợ tiêu thụ đối với các sản phẩm khoa học mới để doanh nghiệp mạnh dạn tiếp nhận và ứng dụng. "Nếu không có một 'bàn đỡ' của Nhà nước thì rất khó để sản phẩm khoa học đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường", bà nhấn mạnh.
Đánh giá từ thực tiễn tại Hà Nội, PGS.TS Bùi Thị An cho biết thành phố đã ban hành nhiều nghị quyết nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có các chính sách về chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, xây dựng quỹ hỗ trợ nhà khoa học, quỹ thu hút nhân tài và quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Theo bà, đây là những bước đi tích cực nhằm tháo gỡ dần các rào cản về thể chế và tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động nghiên cứu.
![]() |
Đối với đội ngũ nữ khoa học, PGS.TS Bùi Thị An cho rằng bên cạnh các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và thương mại hóa, cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quá trình hoạch định chính sách khoa học và công nghệ. Theo bà, phụ nữ cần có tỷ lệ tham gia phù hợp trong các hội đồng khoa học, hội đồng tư vấn và các cơ quan xây dựng chính sách để tiếng nói của nữ giới được phản ánh đầy đủ hơn trong quá trình ban hành cơ chế hỗ trợ. Đồng thời, các chương trình hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cũng cần lồng ghép mục tiêu bình đẳng giới, tạo điều kiện để nữ khoa học tiếp cận tốt hơn với các nguồn lực phát triển.
PGS.TS Bùi Thị An cũng nhìn nhận phụ nữ làm khoa học phải đảm nhiệm đồng thời nhiều vai trò trong gia đình. Song, bà cho rằng đây không phải nguyên nhân cốt lõi khiến kết quả nghiên cứu khó thương mại hóa. Theo bà, nếu chỉ quy nguyên nhân cho "vai trò kép" thì sẽ không giải quyết được bản chất của vấn đề. Điều cần thay đổi trước hết là tư duy quản lý, cơ chế đầu tư và chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện để các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và đưa sản phẩm đến với thị trường.
Bà cũng lưu ý việc xây dựng các quỹ hỗ trợ khoa học cần xác định rõ tỷ lệ nguồn lực từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa để bảo đảm tính bền vững, đồng thời tạo cơ sở mở rộng quy mô hỗ trợ trong tương lai. Theo bà, khoa học và công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị đối với nền kinh tế. Muốn đạt được điều đó, cần đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách, đổi mới cách thức đầu tư, tăng cường cơ chế đặt hàng từ nhu cầu thực tiễn và xây dựng hệ thống hỗ trợ đủ mạnh để đồng hành cùng các nhà khoa học trong toàn bộ quá trình thương mại hóa.




















AI mở ra cơ hội rút ngắn hành trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nữ khoa học
Tập huấn sở hữu trí tuệ: Khơi thông “điểm nghẽn” thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong đại học
Nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công
Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Xây hệ sinh thái đưa kết quả nghiên cứu của nữ khoa học ra thị trường
Cùng chuyên mục
PGS.TS Bùi Thị An: Cần tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, chính sách để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường
Nữ trí thức Việt Nam trước cơ hội mới từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
PGS.TS. Bùi Thị An: Cần tăng tỷ lệ nữ tham gia hoạch định chính sách và phát huy nguồn lực phụ nữ cao tuổi
Muốn nghiên cứu đi vào cuộc sống, nhà khoa học không thể đi một mình
Hà Nội hỗ trợ tới 100% chi phí đầu tư hạ tầng khoa học và công nghệ