Tại Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số”, GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam, đã chia sẻ những khuyến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn cho các nhà khoa học nữ trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
![]() |
| GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, (bên phải) chia sẻ những khó khăn và thách thức hiện tại đối với các nhà khoa học nữ tại Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số”. |
Theo GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, để một công trình khoa học đi từ ý tưởng đến sản phẩm thương mại là hành trình dài, đòi hỏi sự kiên trì, nguồn lực tài chính và sự đồng hành của nhiều bên liên quan. Thực tế nghiên cứu của bà cho thấy các kết quả khoa học chỉ có thể phát huy giá trị khi được kết nối với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Hơn hai thập niên qua, Phòng thí nghiệm trọng điểm về Công nghệ Lọc hóa dầu đã theo đuổi định hướng nghiên cứu từ cơ bản đến ứng dụng, tập trung vào các lĩnh vực xúc tác dị thể, vật liệu tiên tiến, lọc hóa dầu, nhiên liệu sinh học và năng lượng mới. Từ nền tảng nghiên cứu đó, nhiều công nghệ đã được phát triển và từng bước chuyển giao vào sản xuất.
Một trong những kết quả nổi bật là nghiên cứu phụ gia tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải cho động cơ diesel. Công nghệ này đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ và ứng dụng trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong khai thác công nghiệp và vận tải.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng triển khai các giải pháp phụ gia cho lò nung clinker trong ngành xi măng. Công nghệ được ứng dụng tại nhiều nhà máy như Tân Thắng, Tam Điệp, Thăng Long, Cẩm Phả và Hạ Long, giúp giảm đáng kể chi phí năng lượng. Riêng tại Nhà máy Xi măng Tân Thắng, mức tiết kiệm được ghi nhận lên tới khoảng 170 tỷ đồng mỗi năm.
![]() |
| GS.TS. Vũ Thị Thu Hà |
Một hướng nghiên cứu khác được GS.TS. Vũ Thị Thu Hà và cộng sự theo đuổi là phát triển nhiên liệu diesel sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm ngành chế biến thực phẩm và dầu vi tảo. Công trình được triển khai theo mô hình hợp tác giữa cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa.
Không chỉ dừng ở lĩnh vực năng lượng, nhóm nghiên cứu còn mở rộng sang khai thác giá trị gia tăng từ nông sản. Dự án sản xuất dầu bơ là một ví dụ cho thấy tiềm năng chuyển hóa nguồn nguyên liệu nông nghiệp thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Từ thực tiễn triển khai các dự án, GS.TS. Vũ Thị Thu Hà cho rằng trở ngại lớn nhất của nhiều nhà khoa học không nằm ở năng lực nghiên cứu mà ở giai đoạn chuyển tiếp giữa phòng thí nghiệm và thị trường. Đây là giai đoạn cần nguồn vốn lớn, thời gian dài và mức độ chấp nhận rủi ro cao, trong khi nhiều nhóm nghiên cứu khó tiếp cận nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đồng hành.
Đối với các dự án phát triển chuỗi giá trị từ vi tảo và phụ phẩm nông nghiệp, bà nhấn mạnh sự cần thiết của những nhà đầu tư đủ kiên nhẫn để đồng hành cho tới khi hình thành nhà máy sản xuất quy mô công nghiệp. Song song với đó là cơ chế hỗ trợ thử nghiệm công nghệ trong điều kiện thực tế nhằm chứng minh hiệu quả và giảm rủi ro cho doanh nghiệp tiếp nhận.
Theo GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, chính sách khoa học và công nghệ hiện nay đang mở ra nhiều cơ hội mới. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo thêm nguồn lực cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời thúc đẩy hình thành hệ sinh thái kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu, doanh nghiệp và tăng trưởng công nghiệp.
Trong bối cảnh đó, cần chuyển mạnh từ mô hình hỗ trợ các đề tài nghiên cứu đơn lẻ sang giải quyết những bài toán lớn của ngành, của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Khi chuỗi giá trị từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất đến thị trường được khép kín, kết quả khoa học mới có điều kiện phát huy tối đa giá trị.
GS.TS. Vũ Thị Thu Hà nhấn mạnh: “Con đường từ công nghệ đến thị trường không thể chỉ dựa vào nỗ lực của nhà khoa học mà cần một hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả, với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Chỉ khi đó, các nhà khoa học nữ mới có thêm điều kiện vượt qua rào cản, đưa những kết quả nghiên cứu ra thị trường, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế xanh và kinh tế số”.



















Tập huấn sở hữu trí tuệ: Khơi thông “điểm nghẽn” thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong đại học
Nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công
ThS. Lê Thị Mỹ Hảo: "Muốn nông nghiệp bền vững, phải coi đất là một cơ thể sống"
GS.TS Vũ Thị Thu Hà: “Tôi hạnh phúc khi chứng kiến một ý tưởng khoa học hình thành từ phòng thí nghiệm được ứng dụng trong thực tiễn”
Xây hệ sinh thái đưa kết quả nghiên cứu của nữ khoa học ra thị trường
Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Cùng chuyên mục
Nữ trí thức Việt Nam trước cơ hội mới từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
PGS.TS. Bùi Thị An: Cần tăng tỷ lệ nữ tham gia hoạch định chính sách và phát huy nguồn lực phụ nữ cao tuổi
Muốn nghiên cứu đi vào cuộc sống, nhà khoa học không thể đi một mình
Hà Nội hỗ trợ tới 100% chi phí đầu tư hạ tầng khoa học và công nghệ