![]() |
| Một nữ nông dân làm việc trên ruộng lúa tại Việt Nam. Chính sách bảo hiểm nông nghiệp mới nâng đáng kể mức hỗ trợ phí cho người sản xuất. Ảnh: Philippe Berry/IFPRI - USAID. |
Từ ngày 20/10/2026, Nghị định 346/2026/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực, nâng mạnh mức Nhà nước có thể hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí; cá nhân không thuộc hai nhóm này tối đa 50%; tổ chức sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện tối đa 30%.
So với chính sách hiện hành, thay đổi đáng kể nhất nằm ở nhóm nông dân không thuộc hộ nghèo, cận nghèo: mức trần tăng từ 20% lên 50%. Đây có thể là khoảng giảm chi phí đủ lớn để nhiều hộ cân nhắc bảo hiểm thay vì tự gánh toàn bộ thiệt hại khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra.
Nhưng 95%, 50% hay 30% đều là mức tối đa, không phải mức hỗ trợ tự động áp dụng giống nhau trên cả nước. Nghị định giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định địa bàn, đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro, mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ phù hợp thực tế và khả năng cân đối ngân sách địa phương. Chính điểm này khiến khâu thực thi trở nên quan trọng đối với câu chuyện bình đẳng giới.
Giảm phí mới là cửa đầu tiên
Bảo hiểm nông nghiệp không phải một chính sách chỉ dành cho phụ nữ. Nam hay nữ làm nông đều đứng trước rủi ro mất mùa, dịch bệnh, hạn hán, ngập lụt hoặc những biến động ngoài khả năng kiểm soát. Tuy nhiên, khả năng bước qua cánh cửa bảo hiểm lại không nhất thiết giống nhau.
Liên Hợp Quốc tại Việt Nam dẫn Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam cho biết 63% phụ nữ nông thôn tham gia hoạt động nông nghiệp, so với 58% nam giới. Cũng trong phân tích này, những hạn chế trong tiếp cận tài chính, công nghệ và quyền đối với đất đai được xác định là những yếu tố có thể khiến phụ nữ khó phục hồi hơn sau các cú sốc khí hậu.
FAO cũng lưu ý phụ nữ trong hệ thống nông nghiệp - thực phẩm trên thế giới vẫn gặp khoảng cách dai dẳng về tiếp cận đất đai, dịch vụ, vốn, vật tư đầu vào, giáo dục và công nghệ. Điều đó không có nghĩa mọi nữ nông dân đều gặp bất lợi giống nhau, càng không thể mặc định phụ nữ là nhóm yếu thế trong mọi hộ sản xuất. Quy mô trang trại, thu nhập, dân tộc, địa bàn, loại hình sản xuất và vị trí của mỗi người trong gia đình đều có thể tạo ra những khác biệt lớn.
Điều đáng xem xét là một chính sách giảm phí chỉ giải quyết được giá của bảo hiểm. Người dân còn phải biết chính sách tồn tại, hiểu rủi ro nào được bảo hiểm, nắm được quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, tiếp cận được doanh nghiệp bảo hiểm và biết phải làm gì khi cần yêu cầu bồi thường.
Bản thân Bộ Tài chính khi xây dựng sửa đổi đã nhìn nhận bảo hiểm nông nghiệp vẫn là sản phẩm mới và phức tạp không chỉ với người nông dân mà cả một bộ phận cán bộ thực thi ở cơ sở; tại một số nơi việc triển khai còn lúng túng và nhận thức của người dân về bảo hiểm chưa cao.
Đây cũng là lý do cần nhìn chính sách mới cùng với những vấn đề về bình đẳng giới trong nông nghiệp và hợp tác xã mà Phụ Nữ Mới từng phân tích, thay vì chỉ tính xem Nhà nước hỗ trợ thêm bao nhiêu phần trăm phí.
![]() |
| Các nữ nông dân thuộc một nhóm ngân hàng phụ nữ được chương trình Mekong Vitality Expanded hỗ trợ tại Vĩnh Long, tháng 1/2015. Ảnh: USAID Vietnam. |
Địa phương quyết định chính sách đến được với ai
Nghị định 346 tạo thêm dư địa cho địa phương. Ngoài những cây trồng, vật nuôi và thủy sản đã được quy định, phạm vi hỗ trợ có thể mở rộng tới các đối tượng khác thuộc danh mục cây trồng, vật nuôi, thủy sản, cây lâm nghiệp chính, chủ lực do cơ quan có thẩm quyền ở trung ương công bố. Các loại hình sản phẩm bảo hiểm cũng đa dạng hơn, gồm bảo hiểm rủi ro định danh, mọi rủi ro, tổn thất thu nhập, chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám.
Quan trọng hơn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được trao quyền lựa chọn chính sách cụ thể trong phạm vi địa phương. Sau khi nhận thông báo, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ phải tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp trong thời hạn 30 ngày.
Ba mươi ngày đó có thể chỉ tạo ra một đợt phổ biến văn bản, nhưng cũng có thể trở thành điểm quyết định chính sách đến được với những người trực tiếp sản xuất hay không.
Nếu buổi tập huấn chủ yếu tiếp cận người đứng tên đại diện hộ, người giữ giấy tờ hoặc thành viên thường xuyên dự họp thôn, hợp tác xã, thì những người thực tế cùng gieo trồng, chăn nuôi nhưng ít xuất hiện tại các cuộc họp có thể nhận thông tin muộn hơn. Đây là một giả thuyết triển khai cần được kiểm tra bằng dữ liệu, không nên mặc định rằng người đó luôn là phụ nữ.
Với phụ nữ làm nông, một rào cản khác đáng lưu ý là khả năng tiếp cận và kiểm soát tài sản sản xuất. Câu chuyện quyền tài sản của phụ nữ không tách rời khả năng tiếp cận vốn, dịch vụ tài chính và quyền quyết định trong hộ gia đình.
Do đó, truyền thông chính sách không nên dừng ở thông báo mức hỗ trợ. Người sản xuất cần được giải thích bằng những tình huống cụ thể: cây hoặc vật nuôi nào được bảo hiểm tại địa phương, loại rủi ro nào thuộc phạm vi bồi thường, phần phí còn lại phải tự đóng bao nhiêu, hồ sơ cần gì và khi thiệt hại xảy ra phải thực hiện các bước nào.
Cần biết phụ nữ có thực sự sử dụng được chính sách
Một chính sách bình đẳng không nhất thiết phải đặt ra mức hỗ trợ khác nhau cho nữ và nam. Trong trường hợp bảo hiểm nông nghiệp, cách phù hợp hơn là bảo đảm cùng một chính sách có thể được tiếp cận trên thực tế bởi những người đủ điều kiện, đồng thời phát hiện sớm nhóm nào đang bị bỏ lại.
Điều này đòi hỏi dữ liệu tốt hơn. Các địa phương có thể theo dõi số người được hỗ trợ và số hợp đồng bảo hiểm theo giới tính, nhóm nghèo - cận nghèo, địa bàn, loại hình sản xuất và quy mô sản xuất. Khi xảy ra rủi ro, dữ liệu về yêu cầu bồi thường, tỷ lệ được giải quyết, nguyên nhân từ chối và thời gian nhận tiền cũng nên được xem xét theo các nhóm tương ứng.
Nếu phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng sản xuất ở một địa bàn nhưng rất ít người đứng tên tham gia bảo hiểm, đó là tín hiệu để tìm nguyên nhân. Nhưng nếu tỷ lệ tham gia và nhận bồi thường giữa nữ và nam tương xứng với thực tế sản xuất, cũng cần ghi nhận điều đó thay vì cố tìm một bất bình đẳng không tồn tại.
Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã nhấn mạnh việc sử dụng dữ liệu phân tách theo giới và tăng tiếng nói của phụ nữ trong quá trình ra quyết định như những công cụ quan trọng khi xây dựng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
![]() |
| Một nông dân trong vùng sản xuất ca cao ở Đắk Lắk. Bảo hiểm nông nghiệp là chính sách dành cho người sản xuất đủ điều kiện, không phân biệt nữ hay nam. Ảnh: USAID Vietnam. |
Điều này càng đáng chú ý khi cấp tỉnh nay có quyền quyết định địa bàn, đối tượng và rủi ro được hỗ trợ. Nếu một địa phương phải lựa chọn giữa những cây trồng, vật nuôi hoặc khu vực khác nhau trong giới hạn ngân sách, thành phần tham gia quá trình tham vấn có thể ảnh hưởng đến việc những loại sinh kế nào được nhìn thấy rõ hơn.
Bởi vậy, sự tham gia của phụ nữ trong hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ chức nghề nghiệp và những cuộc lấy ý kiến ở cơ sở không chỉ mang ý nghĩa đại diện. Nó giúp cơ quan thực thi biết nhóm nào trực tiếp làm một công đoạn, ai chịu rủi ro về thu nhập và loại thiệt hại nào ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng phục hồi của hộ sản xuất.
Đó cũng là lý do câu chuyện phụ nữ cùng tham gia quyết định cần được đặt ở phần thực thi, chứ không chỉ trong những chương trình riêng dành cho phụ nữ.
Đo chính sách bằng khả năng phục hồi sau rủi ro
Nghị định 346 mở thêm một cơ hội quan trọng: giảm phần chi phí khiến người sản xuất ngại tham gia bảo hiểm, đồng thời trao cho địa phương khả năng thiết kế chương trình sát hơn với cơ cấu nông nghiệp của mình. Nhưng số hợp đồng ký được chưa phải thước đo cuối cùng.
Một chính sách bảo hiểm chỉ chứng minh giá trị khi người sản xuất hiểu hợp đồng, tham gia được với chi phí phù hợp và nhận bồi thường đúng quy định khi rủi ro thực sự xảy ra. Với góc nhìn giới, câu hỏi cần theo dõi sau ngày 20/10 không phải đơn giản là có bao nhiêu phụ nữ được hỗ trợ, mà là phụ nữ và nam giới trong cùng điều kiện sản xuất có cơ hội tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ chính sách tương xứng hay không.
Khi quyền quyết định được đưa gần địa phương hơn, địa phương cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn trong việc trả lời câu hỏi đó bằng dữ liệu.
Ba mức hỗ trợ tối đa từ ngày 20/10/2026
1. Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, cận nghèo: tối đa 95% phí bảo hiểm.
2. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc hộ nghèo, cận nghèo: tối đa 50%.
3. Tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng điều kiện: tối đa 30%.
Các mức trên là trần hỗ trợ. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức thực tế, địa bàn, đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro và thời gian hỗ trợ theo điều kiện địa phương và khả năng cân đối ngân sách.




















Thúc đẩy bình đẳng giới trong nông nghiệp và hợp tác xã
Tên người vợ trên giấy chứng nhận đất không chỉ là thủ tục
Muốn giảm thất thoát thủy sản, cần để phụ nữ cùng quyết định
Cùng chuyên mục
Hà Nội dự kiến hỗ trợ 4 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi
Sinh con thứ ba có được nghỉ thai sản 7 tháng?
Tăng hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, phụ nữ có dễ tiếp cận?
Nghỉ khám thai tối đa 5 lần có còn phù hợp với lao động nữ
Nghỉ việc trước khi sinh vẫn có thể hưởng thai sản và thất nghiệp
Phụ nữ cao tuổi có dễ tiếp cận chính sách việc làm mới?