![]() |
| Khó khăn về chú ý không phải lúc nào cũng tạo ra những hành vi dễ nhận thấy trong lớp học. Ảnh minh họa: Yvanille/Wikimedia Commons, CC0. |
Một bé gái vẫn ngồi ở bàn học, không chạy quanh lớp, không thường xuyên chen ngang lời cô giáo. Nhưng em hay bỏ dở bài, quên yêu cầu vừa được giao, mất dấu khi đọc một đoạn văn hoặc phải mất nhiều thời gian hơn bạn bè để hoàn thành công việc. Những biểu hiện như vậy ít làm xáo trộn lớp học, nhưng điều đó không đồng nghĩa đứa trẻ không gặp khó khăn.
Đây là một trong những vấn đề đáng chú ý khi nhìn rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) dưới lăng kính giới. Nghiên cứu ngày càng cho thấy biểu hiện của ADHD ở trẻ em gái và trẻ em trai có thể không hoàn toàn giống nhau. Nếu người lớn vô thức lấy hình ảnh một cậu bé hiếu động, khó ngồi yên làm “mẫu chuẩn”, một số trẻ em gái có nguy cơ được chú ý muộn hơn.
Tuy nhiên, cũng cần tránh đi sang cực đoan ngược lại: không thể từ một vài khác biệt về biểu hiện để kết luận rằng mọi bé gái mất tập trung đều mắc ADHD, hay chênh lệch chẩn đoán giữa hai giới hoàn toàn do thành kiến. Dữ liệu hiện có cho thấy câu chuyện phức tạp hơn.
Một rối loạn nhưng dấu hiệu nổi bật có thể khác nhau
Một tổng quan hệ thống công bố năm 2025 trên Neuroscience & Biobehavioral Reviews đã rà sáu cơ sở dữ liệu và chọn 13 nghiên cứu so sánh biểu hiện ADHD ở cấp độ từng triệu chứng. Ở trẻ em, các bé gái mắc ADHD có xu hướng được ghi nhận nhiều hơn ở những biểu hiện như khó duy trì sự chú ý và dễ bị xao nhãng. Trong khi đó, trẻ em trai được ghi nhận nhiều hơn ở hàng loạt biểu hiện tăng động - xung động dễ quan sát như cựa quậy, rời khỏi chỗ ngồi, chạy nhảy không phù hợp, khó chờ đến lượt hay ngắt lời người khác.
Đó là khác biệt ở mức xu hướng giữa các nhóm nghiên cứu, không phải hai “kiểu ADHD dành riêng cho nam và nữ”. Một bé gái hoàn toàn có thể tăng động rõ, còn một bé trai có thể chủ yếu gặp khó khăn về chú ý. Nhưng với giáo viên hoặc phụ huynh, sự khác biệt về mức độ dễ nhìn thấy có ý nghĩa thực tế: hành vi làm gián đoạn tiết học thường kích hoạt sự chú ý của người lớn nhanh hơn một đứa trẻ chỉ lặng lẽ mất tập trung.
![]() |
| Giáo viên có thể góp phần nhận ra những khó khăn kéo dài về chú ý và học tập của trẻ, nhưng quan sát tại lớp không thay thế đánh giá chuyên môn. Ảnh: Boylangtu105/CC BY-SA 4.0. |
Một bài tổng quan đăng trên The Lancet Psychiatry năm 2024 chỉ ra thêm một khoảng cách đáng suy nghĩ. Trong các mẫu trẻ em tại cơ sở lâm sàng, tỷ lệ được chẩn đoán ADHD giữa nam và nữ vào khoảng 4:1, trong khi ở các nghiên cứu cộng đồng hoặc dân số có sàng lọc rộng hơn, khoảng cách thường gần 2:1. Nữ giới cũng có xu hướng được chẩn đoán lần đầu muộn hơn. Tác giả Joanna Martin cho rằng chênh lệch này gợi ý khả năng ADHD ở trẻ em gái bị nhận diện thiếu hoặc muộn, nhưng đồng thời nhấn mạnh nhiều yếu tố có thể cùng tham gia, từ khác biệt sinh học, cách biểu hiện triệu chứng đến thực hành chẩn đoán và kỳ vọng xã hội.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với phân tích giới. Bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe không có nghĩa phải chứng minh tỷ lệ ADHD của nữ và nam bằng nhau. Vấn đề cần đặt ra là: nếu hai đứa trẻ có mức khó khăn tương đương nhưng một kiểu biểu hiện dễ kích hoạt sự chú ý của người lớn hơn kiểu còn lại, hệ thống nhận diện có đang tạo ra khoảng trống hay không?
Dữ liệu Việt Nam chưa cho phép kết luận đơn giản
Một nghiên cứu mới đăng năm 2026 trên Tạp chí Y học Cộng đồng khảo sát 110 trẻ từ 6 đến 12 tuổi được chẩn đoán ADHD lần đầu tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025. Trẻ nam chiếm 82,7%, trẻ nữ 17,3%, tương ứng tỷ lệ khoảng 4,8 nam trên một nữ. Lý do gia đình đưa trẻ đến khám nhiều nhất lại là học kém tập trung, chiếm 50,9%, cao hơn lý do nghịch nhiều, 40,9%.
![]() |
| Trong mẫu 110 trẻ được chẩn đoán ADHD lần đầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 10/2024–9/2025, trẻ nam chiếm 82,7%, trẻ nữ 17,3%. Đây không phải tỷ lệ mắc ADHD trong cộng đồng. Nguồn: Vietnam Journal of Community Medicine, 2026. |
Con số 4,8:1 rất đáng chú ý, nhưng không thể sử dụng để nói rằng trẻ em trai ở Việt Nam mắc ADHD nhiều gấp 4,8 lần trẻ em gái. Đây là mẫu những trẻ đã đến một phòng khám chuyên khoa và được chẩn đoán, không phải điều tra đại diện cho toàn bộ trẻ em Việt Nam. Nó cho biết ai đã đi tới được hệ thống chuyên khoa trong giai đoạn nghiên cứu, chứ chưa trả lời đầy đủ ai đang ở ngoài hệ thống.
Thực tế, một nghiên cứu cắt ngang khác thực hiện trên 600 học sinh tiểu học tại Vĩnh Long, với dữ liệu thu thập từ cha mẹ và giáo viên vào năm 2009, ước tính tỷ lệ ADHD là 7,7% nhưng không ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới ở các thể ADHD. Đây là dữ liệu cũ và chỉ thuộc một địa phương, nhưng chính sự khác nhau giữa các nghiên cứu cho thấy Việt Nam chưa có căn cứ đủ mạnh để biến câu chuyện “bé gái bị bỏ sót” thành một kết luận về quy mô toàn quốc.
Cách tiếp cận thận trọng hơn là coi đây như một câu hỏi cần được đo lường: độ tuổi chẩn đoán của trẻ em gái và trẻ em trai có khác nhau không; tỷ lệ chuyển khám từ trường học theo giới ra sao; trẻ chủ yếu giảm chú ý có được chuyển khám muộn hơn nhóm tăng động - xung động hay không; và trong số trẻ gặp khó khăn học tập nhưng chưa được đánh giá, cấu trúc giới như thế nào?
“Ngoan” không phải là một tiêu chí sàng lọc sức khỏe
Lớp học cũng là nơi yếu tố giới có thể tác động trước khi một đứa trẻ gặp bác sĩ. Một cậu bé thường xuyên đứng dậy, nói chen hoặc gây gián đoạn dễ được coi là có “vấn đề cần xử lý”. Một bé gái quên bài, chậm hoàn thành nhiệm vụ hoặc thường xuyên mơ màng lại có thể bị diễn giải đơn giản là thiếu cố gắng, thiếu tự tin, nhút nhát hoặc thậm chí “ngoan nhưng học chưa tập trung”.
Không có bằng chứng để nói mọi giáo viên hay cha mẹ đều đánh giá trẻ theo cách đó. Nhưng các kỳ vọng xã hội khác nhau đối với hành vi của bé trai và bé gái có thể tạo nên một tầng lọc trước khi trẻ bước vào hệ thống y tế. Đây cũng là lý do việc chăm sóc sức khỏe tinh thần trong trường học cần quan tâm đến biểu hiện chức năng của trẻ thay vì chỉ những hành vi gây chú ý nhất.
Chiều ngược lại cũng cần được nhìn nhận. Định kiến “con trai thì nghịch” có thể khiến những khó khăn thật sự của trẻ em trai bị xem nhẹ, trong khi gắn nhãn một đứa trẻ hiếu động là ADHD khi chưa được đánh giá chuyên môn lại tạo ra một dạng sai lệch khác. Một cách tiếp cận không định kiến phải bảo vệ cả hai phía: không bỏ sót trẻ ít gây chú ý và cũng không biến những hành vi bình thường thành bệnh lý chỉ vì đứa trẻ hoạt động nhiều.
Phụ Nữ Mới từng đề cập yêu cầu không “đọc sai” hành vi của trẻ đa dạng thần kinh. Với ADHD, nguyên tắc tương tự càng quan trọng: quan sát hành vi là điểm bắt đầu, không phải kết luận chẩn đoán
Nhận diện rộng hơn thay vì tạo một khuôn mẫu mới
Bộ Y tế cuối năm 2025 dẫn thông tin từ các chuyên gia Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, nhấn mạnh ADHD không phải biểu hiện của “trẻ hư” hay hệ quả đơn giản của cách nuôi dạy. Ba nhóm triệu chứng chính gồm giảm chú ý, tăng động và xung động; việc đánh giá cần toàn diện thay vì chỉ nhìn một vài biểu hiện nổi bật.
Từ góc độ trường học, bước khả thi không phải tạo một danh sách riêng cho “ADHD ở bé gái”, bởi điều đó rất dễ hình thành khuôn mẫu mới. Giáo viên và phụ huynh cần được hướng dẫn nhận biết đầy đủ cả giảm chú ý, tăng động và xung động; quan tâm tới mức độ những khó khăn này cản trở việc học, quan hệ và sinh hoạt của trẻ; đồng thời tránh tự chẩn đoán từ vài hành vi riêng lẻ.
Việc thu thập thông tin từ cả gia đình và trường học cũng có giá trị. Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương lưu ý chẩn đoán ADHD cần xem xét triệu chứng ở ít nhất hai môi trường khác nhau. Điều đó giúp hạn chế tình trạng một đứa trẻ bị đánh giá chỉ bằng hình ảnh trong lớp học hoặc chỉ qua những gì cha mẹ quan sát tại nhà.
Ở cấp hệ thống, Việt Nam còn cần dữ liệu phân tách theo giới về tuổi được chuyển khám, tuổi chẩn đoán, thể biểu hiện và thời gian từ khi xuất hiện khó khăn đến khi tiếp cận chuyên khoa. Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em đã đặt ra yêu cầu tăng phát hiện sớm, tư vấn và năng lực của cán bộ giáo dục, y tế, xã hội; bổ sung lăng kính giới vào dữ liệu sẽ giúp nhận ra liệu một nhóm trẻ nào đó có đang đi qua “khe lọc” của hệ thống muộn hơn hay không.
Bình đẳng ở đây không phải tìm cách làm cho số trẻ em gái và trẻ em trai được chẩn đoán ADHD trở nên bằng nhau. Mục tiêu hợp lý hơn là bảo đảm một đứa trẻ không phải gây ồn ào, phá vỡ lớp học hay phù hợp với hình dung quen thuộc về ADHD thì mới được người lớn nhận ra rằng em đang cần hỗ trợ.
Ba điều không nên suy ra từ khoảng cách giới về ADHD
Một: Không phải bé gái hay mất tập trung đều mắc ADHD. Sàng lọc hoặc quan sát dấu hiệu không thay thế chẩn đoán chuyên môn.
Hai: Không phải ADHD ở bé gái luôn “yên lặng”, còn ở bé trai luôn tăng động. Nghiên cứu cho thấy khác biệt ở mức xu hướng giữa các nhóm, không phải quy luật áp cho từng trẻ.
Ba: Tỷ lệ nam/nữ 4,8:1 trong mẫu Bệnh viện Nhi Trung ương không phải tỷ lệ mắc ADHD của trẻ em Việt Nam. Đây là 110 trẻ đã tới phòng khám và được chẩn đoán lần đầu trong giai đoạn nghiên cứu.




















8 nhiệm vụ, giải pháp chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em, chăm sóc trẻ mồ côi
Chăm sóc sức khỏe tinh thần trong trường học để xây dựng trường học hạnh phúc: Không thể trì hoãn
Hiểu đúng hành vi trẻ tự kỷ để không “đọc sai” con
Cùng chuyên mục
ADHD ở bé gái có thể bị bỏ sót nếu chỉ nhìn vào tăng động
Việc sống xanh trong gia đình không nên dồn cho phụ nữ
Ba lô cho bé gái không chỉ cần đẹp, cho bé trai không chỉ cần bền
Phụ nữ làm nhiều việc cần thiết nhưng ít giúp họ thăng tiến
Phụ nữ đi xe buýt cần an toàn từ điểm chờ đến đường về
Cùng một cơn đau, phụ nữ và nam giới có được đánh giá như nhau?