![]() |
| Một phụ nữ làm việc với những sợi tơ tại làng nghề ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một nguồn việc làm quan trọng đối với phụ nữ Việt Nam. Gần một trong hai phụ nữ có việc làm chính thức đang làm cho doanh nghiệp đa quốc gia, theo Báo cáo đánh giá chất lượng FDI tại Việt Nam được OECD công bố ngày 25/6/2026.
Nhưng lợi ích từ dòng vốn này đang tập trung vào một số ngành. Khoảng 90% lao động nữ tại doanh nghiệp nước ngoài làm việc trong lĩnh vực sản xuất. Trong khi đó, giáo dục, y tế và công tác xã hội – những nơi phụ nữ đã có nền tảng nghề nghiệp khá rõ – chỉ nhận chưa tới 1% vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2018–2024.
Khoảng cách này đặt ra một câu hỏi mới cho chính sách đầu tư: Việt Nam cần thu hút dòng vốn vào đâu và đánh giá dự án bằng tiêu chí nào để phụ nữ có thêm việc làm chuyên môn, thu nhập tốt và cơ hội phát triển nghề nghiệp?
Việc làm của phụ nữ tập trung vào sản xuất
Sản xuất chế biến, chế tạo đã mở rộng đáng kể cơ hội việc làm cho phụ nữ, nhất là trong dệt may, da giày và lắp ráp điện tử. OECD tính toán rằng giai đoạn 2019–2023, lĩnh vực sản xuất chiếm 91% tổng số việc làm dành cho phụ nữ tại các doanh nghiệp nước ngoài.
Đóng góp này không thể bị xem nhẹ. Khu vực FDI đã giúp một bộ phận phụ nữ chuyển từ công việc nông nghiệp hoặc phi chính thức sang môi trường doanh nghiệp, tiếp cận quy trình sản xuất, công nghệ và đào tạo tại nơi làm việc.
Tuy nhiên, sự tập trung quá lớn cũng làm tăng mức độ dễ tổn thương khi doanh nghiệp tự động hóa, tái cơ cấu hoặc dịch chuyển đơn hàng. Mức lương bình quân tại doanh nghiệp sản xuất nước ngoài cao hơn doanh nghiệp trong nước khoảng 20%, nhưng đây lại là một trong những mức chênh thấp nhất giữa các ngành được OECD khảo sát.
Việc chuyển từ thu hút FDI sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vì thế cần đi xa hơn tổng vốn đăng ký và số lượng việc làm. Điều đáng đo là phụ nữ đang đảm nhận công việc gì, được đào tạo kỹ năng nào và có thể chuyển sang vị trí kỹ thuật, giám sát hay quản lý hay không.
Khoảng trống ở y tế và công tác xã hội
Trong các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, phụ nữ chiếm 64% nhân lực ngành giáo dục và 67% nhân lực y tế, công tác xã hội trong giai đoạn 2019–2023. Đây là những tỷ lệ cao, nhưng số doanh nghiệp và dòng vốn đi vào các lĩnh vực này vẫn rất hạn chế.
OECD cho biết giáo dục cùng y tế và công tác xã hội chiếm chưa tới 2% tổng số doanh nghiệp nước ngoài. Lương bình quân tại doanh nghiệp FDI trong giáo dục cao hơn doanh nghiệp trong nước khoảng 149%; mức chênh trong y tế và công tác xã hội khoảng 70%.
Đây là số liệu bình quân theo ngành, không đồng nghĩa mọi dự án nước ngoài đều tự động tạo ra việc làm tốt. Tuy vậy, nó cho thấy dư địa để thu hút những dự án mang theo công nghệ, năng lực quản trị, nghiên cứu, đào tạo nhân lực và lộ trình nghề nghiệp rõ ràng hơn.
![]() |
| Nữ nhân viên y tế chuẩn bị thuốc và dụng cụ tiêm. Ảnh minh họa: Anna Tarazevich/Pexels. |
Riêng với y tế, đầu tư phù hợp có thể tạo thêm nhu cầu đối với bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhà nghiên cứu, chuyên gia dữ liệu y khoa và người quản lý. OECD còn đặt lĩnh vực này trong bài toán già hóa dân số và phát triển hệ thống chăm sóc chuyên nghiệp. Khi các dịch vụ chăm sóc được mở rộng, phần công việc không được trả lương đang dồn nhiều lên phụ nữ trong gia đình cũng có khả năng giảm bớt.
Mở rộng FDI vào y tế không đồng nghĩa thương mại hóa dịch vụ bằng mọi giá. Dự án phải đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn, bảo vệ dữ liệu sức khỏe, bảo đảm an toàn người bệnh và không làm sâu thêm chênh lệch tiếp cận giữa các nhóm thu nhập.
Với giáo dục, số vốn đầu tư cũng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng. Giá trị cần được xem xét nằm ở chuyển giao tri thức, hợp tác nghiên cứu, đào tạo giảng viên và khả năng nâng chuẩn hệ thống. Đây cũng là yêu cầu đã được đặt ra đối với mô hình đại học quốc tế và khả năng lan tỏa tri thức.
Không giữ phụ nữ trong những nghề vốn đã đông nữ
Khuyến khích đầu tư vào giáo dục, y tế và công tác xã hội mới giải quyết được một nửa vấn đề. Nếu chính sách chỉ hướng phụ nữ về những nghề lâu nay vẫn được xem là “phù hợp với nữ giới”, sự phân tách nghề nghiệp theo giới có thể tiếp tục kéo dài.
Nửa còn lại là chuẩn bị để phụ nữ tham gia những lĩnh vực Việt Nam đang ưu tiên thu hút FDI như công nghệ số, kỹ thuật cao và kinh tế xanh. OECD ghi nhận chưa đến một phần tư phụ nữ được đào tạo kỹ thuật trong năm 2022, thấp hơn mức 29% của nam giới.
![]() |
| Phụ nữ cần được tạo cầu nối để tham gia nhiều hơn vào các công việc kỹ thuật và công nghệ cao. Ảnh minh họa: ThisIsEngineering/Pexels. |
Các chương trình đào tạo cần xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng thực tế của nhà đầu tư. Khóa học chung chung khó giúp một nữ công nhân chuyển sang vị trí kỹ thuật nếu thiếu chứng chỉ nghề, ngoại ngữ chuyên ngành, thời gian thực hành và cơ hội tuyển dụng sau đào tạo.
Việc mở rộng khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ trong chuyển đổi số còn phụ thuộc vào lịch học, chi phí, địa điểm đào tạo và dịch vụ chăm sóc trẻ. Một chương trình có nội dung tốt vẫn có thể không đến được với phụ nữ nếu được tổ chức vào thời gian họ khó tham gia.
Chính sách phù hợp cần đi trên hai đường song song: mở rộng đầu tư chất lượng ở những lĩnh vực phụ nữ đã có năng lực chuyên môn, đồng thời tạo cầu nối để họ bước vào các ngành mới có năng suất và thu nhập cao hơn.
Đo cơ hội nghề nghiệp thay vì chỉ đếm lao động nữ
OECD nhận định Việt Nam chưa có khuôn khổ cụ thể để thu hút FDI gắn với bình đẳng giới, dù mục tiêu bình đẳng đã xuất hiện trong các chiến lược quốc gia. Trong khi đó, khoảng 45% cơ quan xúc tiến đầu tư trên thế giới đã triển khai các sáng kiến có trọng tâm về giới.
Một bộ tiêu chí theo dõi dự án có thể bắt đầu từ những dữ liệu đo được: số việc làm theo giới và nhóm nghề; tỷ lệ phụ nữ ở vị trí kỹ thuật, giám sát và quản lý; tiền lương; loại hợp đồng; thời lượng đào tạo; số người được thăng tiến và tỷ lệ nghỉ việc. Kết quả cần được theo dõi sau khi dự án vận hành, thay vì chỉ ghi nhận trong hồ sơ cam kết ban đầu.
Cơ quan xúc tiến đầu tư cũng có thể kết nối nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo, hỗ trợ nhà cung cấp nữ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế hoặc phối hợp với địa phương đào tạo nhân lực theo đơn đặt hàng. Khi đó, phụ nữ không chỉ xuất hiện trong thống kê tuyển dụng mà còn tham gia với vai trò kỹ sư, người quản lý, nhà cung cấp và chủ doanh nghiệp.
Các chuẩn nơi làm việc dành cho phụ nữ cần được xem xét cùng số lượng việc làm được tạo ra. Một doanh nghiệp tuyển nhiều phụ nữ vào dây chuyền nhưng không có đào tạo, cơ chế phản ánh quấy rối, chính sách chăm sóc hoặc lộ trình thăng tiến chưa thể được xem là dự án tạo tác động giới tích cực.
![]() |
| Chất lượng việc làm cần được đo cả bằng cơ hội đào tạo, thăng tiến và tham gia ra quyết định. Ảnh minh họa: MART PRODUCTION/Pexels. |
Tiêu chí về giới không nhất thiết trở thành một hạn ngạch cứng áp dụng giống nhau cho mọi ngành. Mục tiêu phù hợp với từng lĩnh vực, dữ liệu phân tách theo giới và cơ chế công khai kết quả sẽ giúp cơ quan quản lý phân biệt giữa dự án tạo nhiều việc làm trước mắt với dự án thực sự mở rộng năng lực nghề nghiệp cho phụ nữ.
Dòng vốn chất lượng không chỉ mang thêm nhà xưởng, thiết bị hay doanh thu xuất khẩu. Nó cần giúp phụ nữ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp hơn, được học kỹ năng mới, nhận mức lương tương xứng và tham gia những vị trí tạo ra giá trị cao. Khi các kết quả ấy được đưa vào xúc tiến đầu tư ngay từ đầu, bình đẳng giới trở thành một thước đo của tăng trưởng thay vì phần bổ sung sau cùng.
Bốn cách đưa giới vào xúc tiến đầu tư
OECD tổng hợp một số cách làm đang được các cơ quan xúc tiến đầu tư áp dụng. Argentina hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo xuất khẩu và tìm kiếm nhà đầu tư. Costa Rica phối hợp với khu thương mại tự do và chính quyền địa phương phát triển mạng lưới chăm sóc, đào tạo phụ nữ và hỗ trợ doanh nghiệp nữ tham gia thị trường quốc tế. Copenhagen Capacity của Đan Mạch triển khai chiến dịch “Women in Tech” nhằm tăng nguồn nhân lực nữ cho ngành công nghệ. Cơ quan Đầu tư Türkiye chấm điểm cao hơn đối với dự án có cam kết bình đẳng giới mạnh hoặc kế hoạch tuyển dụng nhiều phụ nữ. Các mô hình này không dùng một công cụ duy nhất mà kết hợp xúc tiến dự án, đào tạo nhân lực, chăm sóc và phát triển doanh nghiệp nữ.
Nguồn: OECD, FDI Qualities Review of Viet Nam 2026.
Link nguồn: https://www.oecd.org/en/publications/fdi-qualities-review-of-viet-nam_a3c78dac-en/full-report/improving-fdi-contribution-to-gender-equality_21ea64e9.html





















Nghị quyết 10-NQ/TW: Chuyển từ thu hút FDI sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Mô hình đại học quốc tế: "Vùng đệm" giữ chân nguồn lực tri thức trẻ
Nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ trong bối cảnh chuyển đổi số
Lao động chăm sóc không lương: Gánh nặng vô hình của phụ nữ
Cùng chuyên mục
Ba lĩnh vực đông lao động nữ chỉ thu hút chưa tới 1% vốn FDI
Quyết định đi làm đôi khi bắt đầu từ cách thiết kế thuế
Ngân sách công mở đường cho cơ hội phát triển của phụ nữ
Luật Thủ đô mở thêm đường cho nữ trí thức làm chủ công nghệ
Học bổng ngành chiến lược mở thêm đường cho nữ trí thức trẻ
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn