![]() |
| Phân tích dữ liệu tài chính là một phần quan trọng trong quá trình đánh giá tác động của chính sách thuế. Ảnh minh họa: Mikhail Nilov/Pexels. |
Thuế thường xuất hiện ở cuối một phép tính, sau khi người lao động đã có thu nhập hoặc doanh nghiệp đã tạo ra lợi nhuận. Nhưng với một gia đình có hai người đi làm, cách đánh thuế đôi khi đã tác động từ sớm hơn: có nên quay lại thị trường lao động, tăng thời gian làm việc hay nhận một công việc có thu nhập cao hơn. Những lựa chọn ấy đặc biệt đáng quan tâm với phụ nữ, nhóm thường được nhắc tới trong các nghiên cứu về “người có thu nhập thứ hai” trong hộ gia đình.
Tháng 3/2026, dự án Women, Business and the Law của World Bank công bố bộ dữ liệu đầu tiên so sánh cách hệ thống thuế thu nhập tại 81 nền kinh tế xem xét yếu tố giới trong pháp luật, quản lý thuế và báo cáo tài khóa. Nghiên cứu không đặt câu hỏi đơn giản rằng quốc gia nào “ưu đãi phụ nữ nhiều hơn”, mà xem cách khai thuế của vợ chồng, các quy định giảm trừ, ưu đãi và dữ liệu người nộp thuế có tạo ra những động lực kinh tế khác nhau hay không.
Điểm đáng quan tâm nhất từ nghiên cứu này là một chính sách thuế tốt không nhất thiết phải có nhãn “dành cho phụ nữ”. Giá trị có thể nằm ở việc thiết kế hệ thống sao cho mỗi người có thêm động lực làm việc, tạo thu nhập và giữ được quyền tự chủ tài chính của mình.
Một phép tính nhỏ có thể ảnh hưởng một quyết định lớn
World Bank phân biệt hai cách chính trong thuế thu nhập cá nhân: đánh thuế theo từng cá nhân và đánh thuế chung theo hộ hoặc cặp vợ chồng. Trong 81 nền kinh tế được nghiên cứu, 74 nền kinh tế mặc định khai thuế riêng từng cá nhân, trong khi 7 nền kinh tế mặc định khai chung; trong nhóm khai chung, hai nền kinh tế không cho phép lựa chọn khai riêng.
Sự khác biệt này có ý nghĩa vì trong hệ thống khai thuế chung với thuế suất lũy tiến, phần thu nhập tăng thêm của người có thu nhập thấp hơn trong gia đình có thể bị tính từ mức thuế biên của người có thu nhập cao hơn. Nhiều nghiên cứu được World Bank tổng hợp cho thấy cơ chế như vậy có khả năng làm giảm động lực tham gia lao động của “người có thu nhập thứ hai”, mà trong nhiều hộ gia đình là phụ nữ. Ngược lại, đánh thuế theo từng cá nhân kết hợp với biểu thuế phù hợp có thể giúp giảm hiệu ứng này và hỗ trợ quyền tự chủ tài chính.
Điểm đáng chú ý ở đây không phải khuyến khích một giới đi làm nhiều hơn giới kia. Chính sách hiệu quả cần tạo điều kiện để quyết định làm việc được dựa nhiều hơn vào năng lực, lựa chọn nghề nghiệp và nhu cầu của từng cá nhân, thay vì bị chi phối bởi một cấu trúc thuế vô tình làm tăng chi phí của việc có thêm thu nhập.
![]() |
| Cách thiết kế chính sách có thể tác động tới những lựa chọn về việc làm, thu nhập và phát triển nghề nghiệp. Ảnh minh họa: Alexander Suhorucov/Pexels. |
World Bank cũng ghi nhận 22/81 nền kinh tế có các quy định thuế thu nhập tạo ra sự khác biệt trực tiếp giữa phụ nữ và nam giới. Những biện pháp này rất đa dạng, từ ngưỡng miễn thuế, giảm trừ và tín dụng thuế đến ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng lao động nữ hoặc doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Nhưng ưu đãi theo giới không tự động đồng nghĩa với chính sách tốt. World Bank cảnh báo một số biện pháp nếu thiết kế hẹp hoặc dựa trên vai trò giới truyền thống có thể vô tình củng cố quan niệm nam giới là người kiếm thu nhập chính còn phụ nữ là người phụ thuộc. Vì vậy, hướng cải cách được khuyến nghị là đánh giá hiệu quả thực tế của ưu đãi và ưu tiên những thiết kế giúp nam và nữ có cơ hội kinh tế bình đẳng, chẳng hạn quy định liên quan chăm sóc được áp dụng cho cả hai giới.
Dữ liệu có thể biến ưu đãi thuế thành chính sách đo được
Một hệ thống thuế có thể có nhiều ưu đãi nhưng vẫn khó trả lời ai thực sự hưởng lợi nếu thiếu dữ liệu. Trong 81 nền kinh tế được World Bank khảo sát, 41 nền kinh tế thu thập thông tin giới tính của người nộp thuế trong quá trình đăng ký hoặc khai thuế. Tuy nhiên, việc công bố và sử dụng dữ liệu này để đánh giá gánh nặng hay lợi ích thuế theo giới còn rất hạn chế.
Khoảng trống còn rõ hơn trong các báo cáo về “chi tiêu thuế” – phần nguồn thu ngân sách Nhà nước chấp nhận không thu do các cơ chế miễn, giảm, khấu trừ hoặc ưu đãi. Có 51 nền kinh tế trong mẫu nghiên cứu công bố báo cáo dạng này, nhưng World Bank cho biết không nền kinh tế nào trong 81 trường hợp được khảo sát thực hiện một cách có hệ thống đánh giá tác động giới trong báo cáo chi tiêu thuế.
Con số này cho thấy dư địa cải thiện rất lớn. Khi dữ liệu cho phép biết một ưu đãi đang giúp nhóm lao động nào, doanh nghiệp nào hoặc tầng thu nhập nào nhiều nhất, chính sách thuế có thể được điều chỉnh dựa trên kết quả thay vì chỉ dựa vào mục tiêu ban đầu.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với phụ nữ làm kinh doanh. Thủ tục phức tạp, chi phí tuân thủ và khả năng tiếp cận thông tin thuế có thể ảnh hưởng tới quyết định đăng ký chính thức hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh. World Bank ghi nhận 77/81 nền kinh tế đã cung cấp các dịch vụ chung như cổng khai thuế điện tử, đường dây hỗ trợ hay tài liệu hướng dẫn; ở những nơi tồn tại rào cản đặc thù, hỗ trợ hành chính có mục tiêu có thể giúp phụ nữ đăng ký và thực hiện nghĩa vụ thuế độc lập thuận lợi hơn.
Đây cũng là điểm có thể nối với câu chuyện phụ nữ khởi nghiệp ở Việt Nam. Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035 đã đặt yêu cầu hỗ trợ phụ nữ phát triển mô hình kinh doanh bền vững, xanh và số hóa. Khi môi trường thuế trở nên dễ hiểu, dễ tuân thủ và dựa nhiều hơn trên dữ liệu, một phần chi phí vô hình của quá trình chính thức hóa doanh nghiệp cũng có thể được giảm xuống.
Việt Nam đã có những nền tảng để nhìn thuế từ góc độ cơ hội
Hệ thống thuế Việt Nam đang trong giai đoạn có nhiều thay đổi. Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; mức giảm trừ đối với người nộp thuế được điều chỉnh lên 15,5 triệu đồng/tháng và mức giảm trừ mỗi người phụ thuộc lên 6,2 triệu đồng/tháng. Những thay đổi cụ thể của chính sách thuế thu nhập cá nhân từ tháng 7/2026 đã được Phụ nữ Mới thông tin trước đó.
Ở thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật số 67/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/10/2025 và Nghị định 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 tạo khuôn khổ mới cho chính sách thuế doanh nghiệp. Một báo cáo đánh giá chính sách lao động của cơ quan nhà nước năm 2026 cũng ghi nhận Bộ Tài chính đã tham mưu và hướng dẫn các chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động liên quan đến lao động nữ theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định này.
World Bank, với dữ liệu được thu thập đến cuối năm 2024, cũng xếp Việt Nam cùng Angola, Colombia và Hàn Quốc trong nhóm các nền kinh tế có cơ chế khấu trừ tăng thêm cho người sử dụng lao động khi tuyển dụng phụ nữ hoặc phụ nữ là nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới. Đây là dữ liệu về cấu trúc chính sách tại thời điểm khảo sát, không nên được hiểu là đánh giá đầy đủ hệ thống thuế hiện hành sau các thay đổi pháp luật năm 2025–2026.
![]() |
| Dữ liệu phân tách tốt hơn giúp cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả và đối tượng thực sự hưởng lợi từ chính sách thuế. Ảnh minh họa: Artem Podrez/Pexels. |
Thực tế này gợi ra một hướng tiếp cận rộng hơn. Thay vì chỉ hỏi “có ưu đãi cho phụ nữ hay không”, điều đáng quan tâm hơn là ưu đãi đó có giúp doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo và giữ chân lao động nữ tốt hơn không; người lao động có thêm cơ hội tăng thu nhập hay không; doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ có thuận lợi hơn trong quá trình chính thức hóa và mở rộng quy mô hay không.
Cách đánh giá tương tự cũng có thể áp dụng với nữ trí thức. Các ưu đãi thuế dành cho chuyên gia, nhà khoa học và người tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội cho thấy thuế có thể trở thành một công cụ hỗ trợ thu hút và giữ nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặt thêm dữ liệu giới vào quá trình đánh giá sẽ giúp nhìn rõ nữ khoa học gia, chuyên gia và người khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận những chính sách ấy ra sao.
Đó cũng là điểm gặp nhau giữa thuế và bình đẳng giới. Một chính sách thuế hướng tới bình đẳng không nhất thiết phải tạo nhiều ưu đãi riêng cho phụ nữ. Quan trọng hơn là giảm những động lực khiến một người phải thu hẹp lựa chọn nghề nghiệp, xây dựng dữ liệu đủ tốt để biết ai đang hưởng lợi và dùng bằng chứng đó để thiết kế chính sách ngày càng hiệu quả.
Bốn con số đáng chú ý từ 81 nền kinh tế
Bộ dữ liệu Women, Business and the Law của World Bank cho thấy 74/81 nền kinh tế được khảo sát mặc định khai thuế thu nhập cá nhân riêng từng người, còn 7 nền kinh tế mặc định khai chung. Có 22 nền kinh tế duy trì ít nhất một quy định thuế phân biệt trực tiếp theo giới. 41/81 nền kinh tế thu thập thông tin giới tính trong đăng ký hoặc khai thuế. Trong khi đó, dù 51 nền kinh tế công bố báo cáo về chi phí của các ưu đãi thuế, không trường hợp nào trong mẫu nghiên cứu thực hiện có hệ thống đánh giá tác động giới trong các báo cáo này. Các chỉ số không đo trực tiếp kết quả kinh tế của phụ nữ, nhưng cung cấp một đường cơ sở để xem xét cách thiết kế và quản trị thuế có thể được cải thiện.
Nguồn: World Bank, Gender and Taxation: Insights from New Data across 81 Economies, 11/3/2026.
Link gốc: https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/099843303162642439




















Chính sách mới về thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1/7 tất cả mọi người cần biết
Luật Thủ đô mở thêm đường cho nữ trí thức làm chủ công nghệ
Triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035
Phụ nữ kết nối - Kiến tạo sức mạnh doanh nghiệp thời đại số
Cùng chuyên mục
Quyết định đi làm đôi khi bắt đầu từ cách thiết kế thuế
Ngân sách công mở đường cho cơ hội phát triển của phụ nữ
Luật Thủ đô mở thêm đường cho nữ trí thức làm chủ công nghệ
Học bổng ngành chiến lược mở thêm đường cho nữ trí thức trẻ
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Luật Nhà giáo mở thêm không gian cống hiến cho nữ trí thức