![]() |
| Hai phụ nữ đi qua khu vực cây xanh ở Hà Giang. Khi nguồn lợi từ rừng được chia sẻ tới hộ và cộng đồng, việc ai tham gia quyết định sử dụng nguồn lực là một khía cạnh cần được theo dõi. Ảnh Son Hoa Nguyen/Pexels. |
Từ giữa tháng 7/2026, Việt Nam có một khung pháp lý thống nhất cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định từ việc xây dựng dự án, xác định kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng đến cách chi trả và quản lý nguồn tiền. Đối tượng liên quan không chỉ có cơ quan nhà nước và doanh nghiệp mà còn gồm hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.
Với một chính sách tạo thêm nguồn thu từ rừng, câu hỏi bình đẳng giới không nhất thiết bắt đầu bằng việc dành một tỷ lệ tiền riêng cho phụ nữ. Nghị định không thiết kế một nhóm thụ hưởng theo giới. Điều cần theo dõi nằm sâu hơn trong quá trình thực hiện. Khi hộ gia đình hoặc cộng đồng cùng tham gia dự án, ai có mặt trong cuộc bàn bạc, ai góp ý vào phương án chia sẻ lợi ích và ai thực sự tham gia quyết định khoản tiền đó được sử dụng thế nào?
Đây không phải câu hỏi được đặt thêm từ bên ngoài chính sách. Chính văn bản đã yêu cầu dự án phải tham vấn cộng đồng, ghi nhận ý kiến về lợi ích và tác động, đồng thời bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, hợp lý đối với các hoạt động có sự tham gia của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng địa phương và người dân tộc thiểu số. Khoảng cần quan sát là những yêu cầu này sẽ được thực hiện đến đâu khi nhìn từ phụ nữ và nam giới.
Tiền các-bon có thể đi tới hộ và cộng đồng
Nghị định cho phép chi trả dịch vụ theo hai cách. Bên sử dụng có thể trả trực tiếp cho bên cung ứng thông qua hợp đồng hoặc sàn giao dịch các-bon, hoặc tiền được ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Mức chi trả được tính trên một tấn CO2, một tấn CO2 tương đương hoặc một tín chỉ các-bon rừng. Một trong những nguyên tắc của cơ chế này là công khai, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan.
Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư là chủ rừng có thể hợp tác, liên kết với tổ chức khác để xây dựng dự án các-bon rừng. Với cộng đồng dân cư, mẫu cam kết tham gia dự án yêu cầu người đại diện xác nhận việc tham gia sau khi đã trao đổi và thống nhất trong cộng đồng. Người đại diện cũng chấp nhận kế hoạch chia sẻ lợi ích của dự án sau khi kế hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ở khâu sử dụng tiền, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư được sử dụng toàn bộ khoản nhận được để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và nâng cao đời sống. Nếu tiền được ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, việc xác định mức chi trả cho chủ rừng căn cứ vào diện tích rừng cung ứng dịch vụ theo cơ chế quy định tại nghị định.
Quy định này đưa lợi ích kinh tế của các-bon rừng xuống gần hộ và cộng đồng hơn, nhưng “hộ gia đình” hay “cộng đồng dân cư” vẫn là một đơn vị tập thể. Một khoản tiền đã về tới hộ chưa cho biết người phụ nữ hay người đàn ông nào đã tham gia lựa chọn cách sử dụng. Một cộng đồng đã nhận được lợi ích cũng chưa cho biết những nhóm nào trong cộng đồng đã góp tiếng nói vào quyết định cuối cùng.
Đó là lý do không nên đánh đồng việc tiền đã được phân bổ đúng đối tượng với việc lợi ích bên trong hộ và cộng đồng đã được chia sẻ công bằng giữa nữ và nam. Ngược lại, cũng không thể mặc định phụ nữ đang bị gạt ra ngoài nếu chưa có dữ liệu. Muốn biết chính sách tạo ra tác động giới thế nào, cần nhìn vào chính quá trình tham gia và ra quyết định.
![]() |
| Cộng đồng cư trú gần rừng là một trong những không gian mà cơ chế chia sẻ lợi ích từ bảo vệ và phát triển rừng có thể tác động tới đời sống tại chỗ. Ảnh minh họa tại Mộc Châu, Sơn La. Ảnh Elist Nguyen/Unsplash. |
Có tham vấn nhưng chưa có thước đo theo giới
Phụ lục về xây dựng dự án các-bon rừng yêu cầu tham vấn cộng đồng địa phương và các tổ chức liên quan ngay trong quá trình chuẩn bị dự án. Người tham gia phải có cơ hội góp ý về lợi ích, kế hoạch triển khai và những tác động có thể xảy ra. Biên bản cuộc họp, danh sách người tham gia và hình ảnh phải được lưu lại; dự án cũng phải tổng hợp những ý kiến ủng hộ, quan ngại và đề xuất liên quan đến chia sẻ lợi ích. Với khu vực rừng do cộng đồng quản lý hoặc sử dụng theo tập quán, chủ dự án phải đạt được sự đồng thuận của các nhóm bị ảnh hưởng và làm rõ cơ chế chia sẻ lợi ích.
Đây là một nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, rà toàn bộ nghị định cho thấy văn bản không đặt ra tỷ lệ phụ nữ phải tham gia tham vấn và không yêu cầu kết quả chi trả cho hộ, cá nhân hoặc cộng đồng phải được báo cáo tách riêng theo nữ và nam. Các biểu mẫu kế hoạch tài chính ghi số lượng hộ, diện tích và số tiền chi trả nhưng không tạo thành một hệ chỉ tiêu theo giới.
Khoảng trống dữ liệu này không đồng nghĩa cơ chế tham vấn sẽ thiếu bình đẳng. Nó chỉ có nghĩa rằng nếu cơ quan thực hiện muốn biết phụ nữ có thực sự tham gia hay không thì cần thêm lớp thông tin ngoài các chỉ tiêu tài chính bắt buộc. Một danh sách cho biết có 50 người dự họp chẳng hạn chưa trả lời được nữ và nam tham gia bao nhiêu, nhóm nào phát biểu, đề xuất nào được tiếp thu hay ai tham gia thống nhất phương án sử dụng lợi ích.
Kinh nghiệm đang được triển khai ngay tại Việt Nam cho thấy vấn đề này đã được nhận diện trong các chương trình tài chính các-bon rừng. Chương trình EnABLE thuộc Forest Carbon Partnership Facility đang hỗ trợ tại sáu tỉnh Bắc Trung Bộ với mục tiêu tăng cường sự tham gia của các nhóm dân tộc thiểu số, trong đó nhấn mạnh phụ nữ và trẻ em gái tại các làng phụ thuộc vào rừng.
Tháng 2/2026, chương trình này công bố một công cụ số được phát triển tại Việt Nam nhằm ghi nhận quá trình ra quyết định, quản lý nguồn tiền và công khai tiến độ để việc chia sẻ lợi ích trong cộng đồng minh bạch và bao trùm hơn. Công cụ còn tích hợp tiếng Cơ Tu và Pa Kô nhằm giảm rào cản ngôn ngữ cho người dân tộc thiểu số. Đây là một dự án hỗ trợ riêng, không phải yêu cầu của Nghị định 180, nhưng nó cho thấy việc biết ai tham gia quyết định có thể quan trọng không kém việc biết bao nhiêu tiền đã được chuyển.
Điều này cũng liên quan tự nhiên tới tiếng nói trong cộng đồng. Việc một quy trình mở cho mọi người tham gia không tự động tạo ra cùng một mức ảnh hưởng cho mọi nhóm. Muốn đánh giá điều đó, dữ liệu phải đi xa hơn việc ghi nhận có hay không một cuộc họp cộng đồng.
![]() |
| Người dân tại một khu vực nông thôn ở Mộc Châu, Sơn La. Với các dự án có sự tham gia của cộng đồng, dữ liệu về người tham gia và quá trình ra quyết định giúp đánh giá rõ hơn việc chia sẻ lợi ích. Ảnh Elist Nguyen/Unsplash. |
Năm đầu thực hiện cần nhìn vào người ra quyết định
Ngày 2/7, trước thời điểm nghị định có hiệu lực, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức hội nghị triển khai với gần 1.000 điểm cầu. Các địa phương được đề nghị đánh giá tiềm năng các-bon rừng, xây dựng kế hoạch thực hiện, phổ biến chính sách tới chủ rừng, đào tạo năng lực và chuẩn bị dữ liệu cho hoạt động đo đạc, báo cáo và kiểm chứng. Cơ quan quản lý cũng xác định nguồn thu từ các-bon rừng là nguồn lực tài chính bổ sung cho bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cộng đồng.
Ở giai đoạn này, việc bổ sung góc nhìn giới không nhất thiết làm phát sinh thêm một cơ chế ưu đãi. Một số chỉ báo thực thi tương đối đơn giản đã có thể giúp trả lời những câu hỏi hiện còn thiếu dữ liệu, chẳng hạn tỷ lệ nữ và nam tham gia tham vấn, ai đại diện hộ hoặc cộng đồng trong quá trình xây dựng dự án, phụ nữ có tham gia đề xuất phương án chia sẻ lợi ích hay không và những hỗ trợ sinh kế sau đó đến với những nhóm nào. Đây là các chỉ báo để đánh giá thực thi, không phải nghĩa vụ đã được Nghị định 180 quy định.
Nghị định cũng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, đồng thời tổng hợp tình hình thực hiện. Các quỹ bảo vệ và phát triển rừng phải báo cáo định kỳ kết quả thực hiện và tình hình chi trả. Nếu dữ liệu thực thi sau này có thêm khả năng phân tích theo giới ở những khâu liên quan tới hộ gia đình và cộng đồng, việc đánh giá tác động sẽ có cơ sở hơn thay vì chỉ dựa vào giả định.
Cách làm này cũng phù hợp với câu chuyện rộng hơn về chuyển đổi xanh từ cộng đồng. Khi nguồn tài chính xanh đi xuống địa phương, điều đáng quan tâm không chỉ là tổng số tiền huy động được mà còn là khả năng những người gắn với sinh kế tại chỗ tham gia vào cách nguồn lực ấy được sử dụng.
Cũng cần tránh một cách hiểu khác. Không phải mọi dự án các-bon rừng đều phải tạo ra kết quả giống nhau cho nữ và nam, cũng không có cơ sở để đặt trước kết luận rằng phụ nữ phải nhận một tỷ lệ tiền nhất định. Nghị định đặt trọng tâm vào quyền của chủ rừng, diện tích cung ứng dịch vụ, kết quả giảm phát thải và cơ chế chia sẻ lợi ích. Góc nhìn giới cần bổ sung câu hỏi về khả năng tham gia chứ không thay thế các căn cứ pháp lý đó.
Việt Nam đang đồng thời phát triển thị trường các-bon và tạo khung riêng cho nguồn tín chỉ từ rừng. Khi Nghị định 180 mới bước qua những tháng đầu tiên của quá trình thực hiện, đây là thời điểm phù hợp để thiết kế cách theo dõi ngay từ đầu. Nếu chỉ đến khi tiền đã được phân bổ mới hỏi phụ nữ có tham gia quyết định hay không, phần dữ liệu cần để trả lời có thể đã không được thu thập.





















Chọn người có uy tín vùng dân tộc thiểu số không phân biệt giới
Phụ nữ và những bước chuyển đổi xanh từ cộng đồng
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Thị trường carbon: 150 doanh nghiệp lớn bước vào cuộc chơi xanh
Cùng chuyên mục
Tiền các-bon rừng và tiếng nói của phụ nữ trong cộng đồng
Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ được đề xuất hỗ trợ riêng
Học nghề ở nông thôn, phụ nữ cần được tính cả sau khóa học
Điểm ưu tiên tuyển công chức nhìn từ cơ hội của nữ và nam
Học viên nữ được ưu tiên trong đào tạo lãnh đạo doanh nghiệp
Từ 2/10, hỗ trợ nạn nhân mua bán người sát nhu cầu hơn