![]() |
| GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi. Ảnh: VNU-HCM |
Cả cuộc đời cống hiến cho nền khoa học nước nhà, GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi luôn trăn trở với trách nhiệm của một người trí thức trước đất nước và Nhân dân. Với bà, nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở những công trình trên giấy mà phải giải quyết được những vấn đề của thực tiễn, tạo ra giá trị cho xã hội và góp phần đào tạo các thế hệ kỹ sư, nhà khoa học kế cận.
Sinh năm 1945 tại Sài Gòn, GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi là con gái của Bộ trưởng Bộ Canh nông Ngô Tấn Nhơn. Sau năm 1954, bà cùng gia đình tập kết ra Bắc. Học hết phổ thông, bà được cử sang Liên Xô học ngành Động lực học và Máy, lĩnh vực khi đó gần như chỉ có nam giới theo đuổi. Sau khi hoàn thành chương trình tiến sĩ kỹ thuật năm 1975, bà trở về nước, mang theo khát vọng góp sức xây dựng quê hương sau chiến tranh.
Cuối năm 1975, bà được phân công công tác tại Trường Đại học Kỹ thuật, thành viên của Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, tiền thân của Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) ngày nay.
Đất nước vừa thống nhất nhưng còn vô vàn khó khăn. Hệ thống sản xuất thiếu vật tư, thiết bị và phụ tùng do điều kiện bế quan, nhiều nhà máy hoạt động cầm chừng. Theo GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi, những người được tạo điều kiện học tập ở nước ngoài khi trở về đều ý thức rất rõ trách nhiệm phải đóng góp cho công cuộc khôi phục và phát triển đất nước.
Từ suy nghĩ ấy, bà dành nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm để tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật có thể ứng dụng ngay vào sản xuất. Song song với nghiên cứu, bà cùng nhiều đồng nghiệp đảm nhận một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là khôi phục và phát triển hệ thống giáo dục đại học tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
"Lúc ấy, chúng tôi không có sự lựa chọn mà chỉ có một quyết tâm", bà từng chia sẻ khi nhớ về những năm tháng đầu sau ngày đất nước thống nhất.
Những ngày đầu đứng lớp là chuỗi ký ức không thể quên. Không có micro trong các giảng đường rộng với hàng trăm sinh viên, giọng nói nhỏ khiến bà phải cố gắng rất nhiều để truyền đạt bài giảng. Giáo trình còn thiếu, tài liệu khan hiếm, bà mở thêm các lớp phụ đạo vào buổi tối hoặc cuối tuần ngay tại nhà để hỗ trợ sinh viên hoàn thành bài tập và đồ án.
Điều kiện thực hành cũng vô cùng thiếu thốn. "Chúng tôi còn phải đi nhặt từng cọng dây điện, từng con ốc để làm thí nghiệm vì lúc đó đất nước bị bế quan tỏa cảng, các nhà máy còn không đủ vật liệu sản xuất thì trường đại học càng không có dụng cụ thực tập", bà nhớ lại.
Nhờ sự nỗ lực của đội ngũ giảng viên và sinh viên, những khó khăn ấy dần được vượt qua. Trường Đại học Bách khoa trở thành cơ sở đầu tiên của Việt Nam đào tạo ngành Cơ kỹ thuật, lĩnh vực đóng vai trò kết nối giữa khoa học cơ bản với ứng dụng công nghệ, tạo nền tảng cho nhiều ngành kỹ thuật hiện đại sau này.
Bước sang những năm 1990, tên tuổi GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi được biết đến rộng rãi với nhiều công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Nổi bật nhất là dự án chế tạo máy cân bằng động, thiết bị công nghệ cao mà khi đó chỉ rất ít quốc gia trên thế giới có khả năng sản xuất.
Ý tưởng nghiên cứu xuất phát từ một vấn đề thực tiễn. Theo bà, trong bối cảnh hải tặc còn hoạt động phức tạp, tàu của Cảnh sát biển Việt Nam gặp khó khăn khi truy đuổi do bánh lái không thể quay ở tốc độ cao. Nếu tăng tốc, các chi tiết quay mất cân bằng sẽ gây rung lắc mạnh, ảnh hưởng đến an toàn vận hành. Từ đó, bà quyết tâm nghiên cứu thiết bị đo rung động và cân bằng các chi tiết quay nhanh sử dụng trên máy bay, tàu thủy và ô tô.
Con đường đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thực tế không hề dễ dàng. Năm 1992, một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô xuất khẩu đồng ý cho nhóm nghiên cứu thử nghiệm máy cân bằng động trên vô-lăng và bánh đà. Thành công ban đầu đã mở ra cơ hội để nhóm tiếp tục giới thiệu công nghệ đến các doanh nghiệp.
Không lâu sau, máy cân bằng động được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc cân bằng tua-bin máy bay tại Xưởng sửa chữa A41 thuộc sân bay Tân Sơn Nhất. Từ đây, công nghệ do người Việt Nam nghiên cứu và chế tạo từng bước khẳng định năng lực trong lĩnh vực cơ khí chính xác.
Đến nay, các dòng máy cân bằng động do GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi và cộng sự phát triển đã được triển khai tại nhiều cơ sở sản xuất trong nước. So với thiết bị nhập khẩu, sản phẩm nội địa có giá thành cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, góp phần giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài và nâng cao năng lực sản xuất của ngành cơ khí Việt Nam.
Theo GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi, giá trị của một công trình khoa học không nằm ở số lượng đề tài hay danh hiệu đạt được mà ở hàm lượng tri thức và khả năng tạo ra lợi ích cho xã hội. Bà luôn nhắc các học trò phải trân trọng từng đồng tiền thuế của người dân dành cho nghiên cứu, bởi điều quan trọng nhất là những giá trị còn lại cho đất nước sau mỗi công trình.
Ở tuổi 80, bà vẫn tiếp tục giảng dạy bậc cao học, hướng dẫn nghiên cứu sinh và biên soạn giáo trình. Điều bà luôn truyền lại cho thế hệ trẻ là nghiên cứu khoa học phải bắt nguồn từ thực tiễn, giải quyết được những bài toán của cuộc sống và chỉ thực sự có ý nghĩa khi sản phẩm được xã hội chấp nhận thông qua chuyển giao công nghệ, hợp đồng kinh tế, thay vì chỉ dừng lại ở các báo cáo hay mô hình trưng bày. Theo bà, cùng với niềm say mê nghiên cứu của mỗi nhà khoa học, các trường đại học cũng cần có cơ chế khuyến khích để đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu được làm việc bằng đam mê và sáng tạo.
Với những đóng góp nổi bật cho khoa học và công nghệ, GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005 cho công trình "Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số thiết bị đo lường và điều khiển phục vụ sản xuất"; Giải Ba Hội thi Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2000 với công trình "Chế tạo máy cân bằng động và chế tạo bộ điều khiển cho máy công cụ". Năm 2002, bà được trao Giải thưởng Kovalevskaia, giải thưởng quốc tế danh giá dành cho các nhà khoa học nữ có những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Hơn nửa thế kỷ bền bỉ với giảng đường và phòng thí nghiệm, GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi không chỉ để lại những công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao mà còn truyền cảm hứng về trách nhiệm xã hội của người làm khoa học. Với bà, thành tựu lớn nhất không phải là những giải thưởng mà là những sản phẩm phục vụ cuộc sống và các thế hệ học trò tiếp tục nối dài con đường nghiên cứu vì sự phát triển của đất nước.



















Năm nhà khoa học nữ tiên phong được vinh danh tại Giải thưởng L'Oréal-UNESCO 2026
Nhà khoa học nữ đứng sau những đột phá pin thế hệ mới trở thành lãnh đạo NTU
Gỡ nút thắt để nhà khoa học nữ đưa nghiên cứu ra thị trường
Hai nhà khoa học nữ giành “Oscar khoa học” nhờ liệu pháp gen thay đổi cuộc sống bệnh nhân mù
Giải thưởng Kovalevskaia 2025 vinh danh một tập thể và một nhà khoa học nữ xuất sắc
Cùng chuyên mục
GS.TS.NGND Ngô Kiều Nhi: Cả đời theo đuổi khoa học để tạo ra giá trị cho đất nước
GS.TSKH Tạ Thị Hoài An: Nữ Giáo sư Toán học thứ ba của Việt Nam
Nhà khoa học đưa nghiên cứu rối loạn mỡ máu di truyền cứu sống hàng trăm nghìn người Việt
Khi nhà khoa học bước ra từ trang báo
GS. Lê Thi: Nhà khoa học mở đường cho nghiên cứu giới ở Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Minh Tân được vinh danh trong top 100 nhà khoa học xuất sắc châu Á năm 2026