![]() |
| Học sinh đọc sách tại thư viện Trường Tiểu học Ngôi Sao Hà Nội. Ảnh: VGP/Nhật Nam. |
Một hệ thống giáo dục có thể đạt kết quả cao nhưng bên trong vẫn tồn tại những khoảng cách đáng chú ý giữa các nhóm học sinh.
SEA-PLM 2024 là một ví dụ. Việt Nam có khoảng 6.000 học sinh lớp 5 tại 152 trường tiểu học thuộc 53 tỉnh, thành phố cũ tham gia khảo sát. Kết quả công bố cho thấy học sinh Việt Nam đạt trung bình 323,5 điểm đọc hiểu và 334,6 điểm toán, tiếp tục đứng ở nhóm cao nhất trong các nước tham gia. Tỷ lệ đạt mức năng lực cao về đọc hiểu là 66%, còn tỷ lệ đạt mức tối thiểu theo SDG 4.1.1b là 86%.
Nhưng thành tích trung bình của cả nước không trả lời một câu hỏi khác: trong cùng hệ thống ấy, nam sinh và nữ sinh đang học như nhau hay đang hình thành những khoảng cách khác nhau?
Thành tích cao không có nghĩa mọi khoảng cách đã biến mất
Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo khu vực SEA-PLM tháng 7/2026 ở Hà Nội, Ban Thư ký khu vực cho biết phân tích sâu hơn vẫn ghi nhận khác biệt về kết quả học tập giữa nam và nữ, trong đó nữ sinh nhìn chung đạt kết quả tốt hơn nam sinh ở đọc hiểu và toán. SEA-PLM vì vậy khuyến nghị các nước không dùng một giải pháp chung cho mọi học sinh mà phải nhận diện những nhóm đang có kết quả thấp hơn.
Điểm cần thận trọng là các thông tin công khai mà Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố về SEA-PLM 2024 hiện chưa cho phép xác định chính xác nam sinh Việt Nam thấp hơn nữ sinh bao nhiêu điểm đọc hiểu. Vì vậy, không nên lấy xu hướng khu vực rồi tự suy thành một con số riêng cho Việt Nam.
Bằng chứng cụ thể hơn có thể tìm thấy ở PISA 2022, cuộc đánh giá học sinh 15 tuổi do OECD thực hiện. Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết tại Việt Nam, nam sinh cao hơn nữ sinh 10 điểm toán nhưng nữ sinh lại cao hơn nam sinh 18 điểm đọc hiểu. Ở môn đọc, 27% nam sinh không đạt mức 2, trong khi tỷ lệ này ở nữ sinh là 19%. Ở toán, tỷ lệ học sinh dưới mức 2 giữa hai giới gần nhau hơn, lần lượt 27% ở nam và 29% ở nữ.
Như vậy, không có căn cứ để nói một giới “học tốt hơn” giới kia một cách chung chung. Lợi thế thay đổi theo lĩnh vực. Nam sinh trong mẫu PISA Việt Nam có ưu thế về toán, còn nữ sinh có ưu thế đáng kể về đọc.
Phụ Nữ Mới từng phản ánh kết quả PISA 2022 của học sinh Việt Nam ở góc nhìn chất lượng giáo dục nói chung. Việc tách tiếp dữ liệu theo giới cho thấy bên dưới điểm trung bình quốc gia còn một lớp vấn đề khác cần được nhận diện.
![]() |
| Học sinh đọc sách trong thư viện trường học. Ảnh minh họa: Báo Điện tử Chính phủ. |
Khoảng cách 18 điểm đọc hiểu không nên được diễn giải thành câu chuyện “nữ sinh thắng nam sinh”. Cách nhìn đó vừa đơn giản hóa dữ liệu, vừa dễ biến bình đẳng giới thành cuộc cạnh tranh xem giới nào bất lợi hơn.
Ý nghĩa chính sách nằm ở câu hỏi khác: vì sao một nhóm học sinh lại tụt lại trong một năng lực nền tảng và hệ thống giáo dục có nhận ra sớm điều đó hay không?
Bình đẳng giới không chỉ là hỗ trợ nữ sinh
Nhiều chương trình bình đẳng giới trong giáo dục tập trung vào những bất lợi có thật của trẻ em gái và phụ nữ, từ cơ hội tiếp cận giáo dục đến sự hiện diện trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Tại Việt Nam, Phụ Nữ Mới cũng đã phản ánh những nỗ lực giúp nữ sinh trong STEM vượt qua định kiến nghề nghiệp và mở rộng lựa chọn tương lai.
Những chính sách đó vẫn cần thiết. Việc nhận diện khoảng cách đọc hiểu của nam sinh không phải lý do để giảm sự hỗ trợ dành cho nữ sinh ở những lĩnh vực họ còn bị hạn chế.
Ngược lại, đây chính là phép thử đối với cách hiểu về bình đẳng giới trong giáo dục: chính sách có đủ khả năng nhìn thấy bất lợi của bất kỳ giới nào tại nơi bất lợi thực sự xuất hiện hay không.
Một bài viết của Phụ Nữ Mới năm 2025 đã nêu một dấu hiệu đáng lưu ý: ở nhóm từ 30 tuổi trở xuống trong khảo sát được dẫn lại, tỷ lệ phụ nữ có trình độ đại học là 48,4%, cao hơn mức 42,7% ở nam giới. Con số này không thể dùng để chứng minh rằng khoảng cách đọc ở tuổi học sinh là nguyên nhân dẫn đến khác biệt ở bậc đại học, nhưng nó cho thấy dữ liệu giới trong giáo dục đang trở nên phức tạp hơn mô hình cũ “nam luôn thuận lợi, nữ luôn bất lợi”.
Đây cũng là lý do chính sách giới cần tránh tư duy tổng số. Tỷ lệ nam và nữ đến trường gần ngang nhau chưa chắc đồng nghĩa hai giới có cùng kết quả, cùng động lực học tập hay cùng khả năng tiếp tục học lên.
Định kiến về nam tính cũng có thể trở thành rào cản
UNESCO đang dành riêng một chương trình nghiên cứu mang tên Lifting barriers: Educating boys for gender equality để xem xét tình trạng nam sinh giảm gắn kết với giáo dục.
Tổ chức này lưu ý rằng dù trẻ em gái tại nhiều nơi vẫn gặp khó khăn lớn hơn trong việc tiếp cận trường học, nam sinh ở nhiều quốc gia lại có nguy cơ cao hơn về lưu ban, kết quả học tập thấp và không hoàn thành chu kỳ giáo dục. UNESCO cho rằng các chuẩn mực và khuôn mẫu giới định hình trải nghiệm học tập của cả nam lẫn nữ, trong đó những quan niệm nam tính mang tính hạn chế có thể ảnh hưởng đến động lực và sự gắn kết của nam sinh với trường học.
Riêng với đọc, UNESCO dẫn dữ liệu PIRLS 2021 cho thấy nữ sinh có kết quả đọc cao hơn nam sinh ở 51 trong 57 hệ thống giáo dục tham gia, với khoảng cách trung bình 19 điểm. Tỷ lệ nữ sinh cho biết rất thích đọc là 46%, trong khi ở nam sinh là 37%. Đây là dữ liệu quốc tế, không phải số liệu riêng của Việt Nam, nhưng nó cho thấy chênh lệch đọc theo giới không phải hiện tượng cá biệt của một quốc gia.
![]() |
| Một độc giả nhỏ tuổi đọc sách tại nhà sách ở Hà Nội. Ảnh: VGP/Chung Anh. |
Điểm đáng lưu ý hơn nằm ở cách xử lý. UNESCO không đề xuất xây dựng một chương trình “đọc dành cho con trai” dựa trên những khuôn mẫu như con trai chỉ thích thể thao, máy móc hay hành động. Một số mô hình được tổ chức này giới thiệu tập trung vào tăng động lực đọc, sử dụng hình mẫu nam giới đọc sách, đưa những chủ đề học sinh quan tâm vào hoạt động đọc và tăng sự tham gia của gia đình. UNESCO đồng thời nhấn mạnh đào tạo giáo viên để nhận biết những khó khăn đặc thù của nam sinh thay vì củng cố thêm định kiến giới.
Đây là ranh giới rất quan trọng. Hỗ trợ một nhóm học sinh không có nghĩa đóng khung nhóm đó bằng chính khuôn mẫu đang cần phá bỏ.
Nếu một cậu bé không thích đọc, giải pháp không nên bắt đầu bằng giả định rằng “con trai vốn không thích sách”. Chính giả định ấy có thể hạ thấp kỳ vọng của gia đình và giáo viên, rồi biến một khác biệt thống kê thành kỳ vọng xã hội đối với từng đứa trẻ.
Dữ liệu giới phải đi xuống từng kỹ năng
SEA-PLM đặt ra một hướng tiếp cận đáng chú ý khi khuyến nghị nâng kết quả của nhóm học sinh ở mức thấp nhất, thu hẹp khoảng cách học tập và sử dụng dữ liệu tốt hơn trong hoạch định chính sách. Kết quả khu vực cũng cho thấy giới tính chỉ là một trong nhiều yếu tố cần xem xét cùng điều kiện kinh tế - xã hội, ngôn ngữ, địa bàn và cơ hội tiếp cận giáo dục sớm.
Với Việt Nam, bước tiếp theo không nhất thiết phải là tạo thêm một chương trình riêng chỉ dành cho nam sinh. Cần thiết hơn là công bố và sử dụng dữ liệu học tập được phân tách đủ sâu.
Điểm đọc trung bình nên được xem đồng thời theo giới, vùng miền, điều kiện kinh tế gia đình, ngôn ngữ sử dụng tại nhà và mức năng lực. Một khoảng cách 18 điểm ở cấp quốc gia sẽ có ý nghĩa chính sách rất khác nếu nó tập trung chủ yếu ở nhóm học sinh khó khăn, ở một số địa bàn hoặc ở nhóm đã mất hứng thú đọc từ sớm.
Nhà trường cũng có thể theo dõi động lực đọc, tần suất đọc tự nguyện và mức tiến bộ của học sinh chứ không chỉ điểm kiểm tra cuối kỳ. Khi nam sinh hoặc nữ sinh bắt đầu tụt lại, hỗ trợ cần đến trước khi khoảng cách trở thành kết quả học tập kéo dài nhiều năm.
Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích phát triển văn hóa đọc trong trường học. Bộ Giáo dục và Đào tạo từng khuyến khích các trường bố trí một tiết mỗi tuần cho học sinh tự đọc tại thư viện, đồng thời huy động giáo viên và cha mẹ cùng xây dựng thói quen đọc.
Giá trị của những không gian đọc như vậy sẽ lớn hơn nếu nhà trường biết ai đang ít đọc, ai thiếu tự tin khi đọc và nhóm nào cần được kéo trở lại với sách.
Bình đẳng giới trong giáo dục vì thế không thể chỉ được đo bằng số nam sinh và nữ sinh có mặt trong lớp học. Nó còn nằm trong quyền được phát triển đầy đủ từng năng lực nền tảng.
Nếu dữ liệu cho thấy nữ sinh bị bỏ lại phía sau ở STEM, chính sách cần can thiệp. Nếu dữ liệu cho thấy nam sinh đang tụt lại ở đọc hiểu, điều đó cũng cần được xử lý với cùng mức độ nghiêm túc.
Nhìn được cả hai phía không làm suy yếu mục tiêu thúc đẩy phụ nữ và trẻ em gái. Ngược lại, đó mới là cách đưa bình đẳng giới trở về đúng bản chất: không mặc định ai là người có lợi thế, mà để bằng chứng chỉ ra ai đang gặp rào cản, rào cản nằm ở đâu và chính sách phải thay đổi điều gì.





















Bình đẳng giới trong giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ là lĩnh vực then chốt
Khi nữ sinh trở thành người dẫn dắt trong lĩnh vực STEM
Nỗ lực thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực STEM tại Việt Nam
Học sinh Việt Nam tụt hạng về khả năng đọc hiểu, toán học và khoa học
Cùng chuyên mục
Khoảng cách đọc hiểu của nam sinh cũng là bài toán giới
Bước tiến của nhà khoa học nữ trong thương mại hóa sáng chế
Phân công theo giới tạo hai lớp rủi ro trong lao động thủy sản
Văn phòng quá lạnh có thể khiến phụ nữ bất tiện hơn mỗi ngày
Cảnh báo thiên tai cần tính đến cách phụ nữ nhận thông tin
Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn