![]() |
| Siêu âm và các kỹ thuật chẩn đoán trước sinh có thể cung cấp thông tin liên quan giới tính khi điều đó cần thiết cho chẩn đoán bệnh. Ảnh: Jacob Sippel/CC BY-SA 4.0. |
Từ ngày 1/7/2026, quy định về giới tính thai nhi có một ranh giới pháp lý khá rõ. Luật Dân số cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức và cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, nhưng dành ngoại lệ cho những trường hợp phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh liên quan đến giới tính do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. Thông tư 11/2026/TT-BYT đã cụ thể hóa ngoại lệ này bằng danh mục 137 bệnh, hội chứng.
Ranh giới ấy quan trọng với cả hai mục tiêu tưởng như đối nghịch: ngăn thông tin giới tính trước sinh bị sử dụng để lựa chọn con trai hay con gái, đồng thời không làm mất đi một dữ liệu y khoa có thể cần thiết cho chẩn đoán. Với thai phụ và gia đình có nguy cơ mắc bệnh di truyền liên quan giới tính, điều cần biết không đơn thuần là thai nhi thuộc giới nào, mà là thông tin đó có ý nghĩa gì đối với nguy cơ bệnh và cách theo dõi thai kỳ.
Ngoại lệ 137 bệnh không phải lối mở để hỏi trai hay gái
Thông tư 11/2026/TT-BYT được Bộ Y tế ban hành ngày 15/5/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Theo nguyên tắc xây dựng danh mục, bệnh phải có cơ chế liên quan trực tiếp đến giới tính và việc xác định giới tính phải có ý nghĩa lâm sàng đối với chẩn đoán, tiên lượng hoặc quyết định xử trí trước sinh, sơ sinh. Những nhóm được tính đến gồm bệnh liên quan giới tính, bệnh di truyền liên kết giới tính, bất thường số lượng hoặc cấu trúc nhiễm sắc thể giới tính và rối loạn phát triển giới tính.
Nói cách khác, 137 bệnh không tạo ra một ngoại lệ chung để cơ sở y tế đáp ứng yêu cầu muốn biết thai là trai hay gái. Ngoại lệ chỉ xuất hiện khi việc xác định và thông báo giới tính nằm trong quá trình chẩn đoán, tiên lượng hoặc xử trí một bệnh thuộc danh mục. Chính Bộ Y tế xác định việc xác định giới tính trong trường hợp này là sử dụng kỹ thuật chuyên môn để nhận diện nhiễm sắc thể giới tính, gen biệt hóa giới tính hoặc kiểu hình giới tính nhằm phục vụ chẩn đoán bệnh lý có biểu hiện khác nhau giữa nam và nữ.
![]() |
| Một phòng khám tại An Giang trong dự án hỗ trợ chăm sóc trước sinh. Ảnh: Dirk Tussing/CC BY-SA 2.0. |
Cách thiết kế này xử lý một bài toán không đơn giản. Nếu lệnh cấm bị hiểu thành “không được nói giới tính trong bất kỳ hoàn cảnh nào”, bác sĩ có thể dè dặt ngay cả khi thông tin ấy cần cho quyết định y khoa. Nhưng nếu chỉ cần viện dẫn chung chung “mục đích chẩn đoán” là đủ, ngoại lệ lại có nguy cơ trở thành khe hở để thông tin giới tính được cung cấp ngoài nhu cầu chuyên môn.
Vì vậy, ranh giới thực chất không nằm ở hai chữ “trai” hay “gái”, mà ở lý do y khoa dẫn tới việc xác định giới tính, căn cứ chuyên môn của chỉ định và cách thông tin sau đó được sử dụng.
Bài toán giới không dừng ở phòng siêu âm
Theo thông cáo về dân số năm 2025 của cơ quan thống kê quốc gia, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 109 bé trai trên 100 bé gái. Con số này vẫn cao hơn mức cân bằng tự nhiên khoảng 105 bé trai trên 100 bé gái được cơ quan dân số của Bộ Y tế sử dụng làm mốc tham chiếu.
![]() |
| Năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 109 bé trai/100 bé gái, vẫn cao hơn mức cân bằng tự nhiên. Nguồn số liệu: Cục Thống kê. |
Chênh lệch trên không thể được quy về riêng hoạt động siêu âm hay một hành vi đơn lẻ. Nó cho thấy lý do chính sách phải kiểm soát cách thông tin giới tính trước sinh được sử dụng. Khi mong muốn có con trai còn tồn tại trong một bộ phận gia đình và cộng đồng, tiến bộ của công nghệ chẩn đoán có thể bị chuyển từ công cụ chăm sóc sức khỏe thành phương tiện phục vụ lựa chọn giới.
Người mang thai là người trực tiếp bước vào cơ sở y tế và chịu các can thiệp lên cơ thể, nhưng quyết định lựa chọn giới tính không nhất thiết xuất phát từ riêng họ. Sức ép có thể đến từ chồng, gia đình hai bên hoặc quan niệm nối dõi, thừa kế, phụng dưỡng. Nếu chính sách chỉ nhắm vào thai phụ mà không nhận diện các quan hệ quyền lực phía sau quyết định sinh con, trách nhiệm rất dễ bị đặt nhầm vào người đang chịu sức ép.
Phụ Nữ Mới từng phân tích rằng siết phá thai lựa chọn giới tính sẽ khó tạo thay đổi bền vững nếu định kiến trọng nam và áp lực xã hội phía sau không được xử lý.
Từ ngày 15/5/2026, khung xử phạt đối với hành vi lựa chọn giới tính thai nhi cũng đã được nâng lên theo Nghị định 90/2026/NĐ-CP. Mức phạt được phân theo hành vi, từ tự loại bỏ thai vì lý do giới tính, dụ dỗ, ép buộc đến cung cấp thuốc, hướng dẫn hoặc thực hiện phá thai khi biết rõ mục đích lựa chọn giới tính.
Danh mục 137 bệnh bổ sung một mảnh ghép mà biện pháp xử phạt không giải quyết được: làm sao chống lựa chọn giới nhưng vẫn bảo đảm người mang thai được tiếp cận chẩn đoán chính đáng. Đây cũng là điểm khác với cách tiếp cận thuần túy siết quản lý lựa chọn giới tính thai nhi trước đây.
Thai phụ cần được đặt ở trung tâm của tư vấn y khoa
Luật Dân số xác lập nguyên tắc cá nhân và cặp vợ chồng được tiếp cận đầy đủ, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; các quyết định liên quan sức khỏe sinh sản phải dựa trên hiểu biết và sự tự nguyện.
Với những bệnh thuộc danh mục 137 trường hợp, tinh thần đó đòi hỏi tư vấn phải trả lời được những câu hỏi cụ thể: vì sao cần xác định giới tính thai nhi, thông tin này đóng vai trò gì trong chẩn đoán, nguy cơ bệnh được đánh giá ra sao và lựa chọn theo dõi hay điều trị tiếp theo là gì. Nếu thai phụ chỉ được báo một kết quả mà không hiểu căn cứ y khoa phía sau, mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin vẫn chưa đầy đủ.
Khâu thực thi cũng cần đề phòng hai sai lệch trái chiều. Một cơ sở y tế có thể quá thận trọng, từ chối cung cấp cả thông tin cần thiết vì sợ vi phạm. Ở chiều ngược lại, lý do y khoa có thể bị sử dụng quá rộng nếu hồ sơ không thể hiện rõ chỉ định chuyên môn.
Một phương án khả thi là chuẩn hóa hồ sơ đối với các trường hợp thuộc danh mục: ghi căn cứ lâm sàng, lý do cần xác định giới tính, nội dung đã tư vấn và mục đích sử dụng thông tin. Những địa phương duy trì tỷ số giới tính khi sinh cao có thể được tăng cường kiểm tra trên cơ sở dữ liệu và dấu hiệu rủi ro, thay vì kiểm soát đồng loạt mọi thai phụ.
Việc tư vấn cũng nên được thực hiện trực tiếp với người mang thai. Khi có dấu hiệu cưỡng ép hoặc áp lực lựa chọn giới, cơ sở y tế cần bảo đảm tính riêng tư và có cơ chế hỗ trợ thích hợp. Cách làm này phù hợp hơn với định hướng mới của Bộ Y tế là vừa thực thi nghiêm quy định không lựa chọn giới tính thai nhi, vừa cung cấp đầy đủ thông tin khoa học và thúc đẩy tiếp cận sàng lọc, chẩn đoán trước sinh.
Thông tư 11 vì thế có ý nghĩa lớn hơn một danh sách 137 bệnh. Chính sách đang cố tách hai mục đích rất khác nhau của cùng một loại thông tin: giới tính được xác định để chăm sóc sức khỏe và giới tính được tìm kiếm nhằm quyết định đứa trẻ nào nên được sinh ra. Làm rõ được ranh giới này mới có thể đồng thời bảo vệ mục tiêu cân bằng giới tính khi sinh và quyền tiếp cận chẩn đoán cần thiết của phụ nữ mang thai.
137 bệnh nhưng chỉ một nguyên tắc phân định
Được thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi khi bệnh thuộc danh mục của Thông tư 11/2026/TT-BYT và việc xác định giới tính phục vụ chẩn đoán, tiên lượng hoặc xử trí y khoa.
Không được lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Việc thông báo, tiết lộ giới tính ngoài ngoại lệ y khoa vẫn thuộc nhóm hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Dân số.
Danh mục 137 bệnh vì vậy không đồng nghĩa thai phụ có quyền yêu cầu cơ sở y tế thông báo giới tính trong mọi lần khám hoặc siêu âm thai.





















Bảo vệ phụ nữ từ gốc rễ không chỉ dừng ở siết phá thai lựa chọn giới tính
Tất cả người dân chuẩn bị sinh con chú ý quy định phạt tới 30 triệu đồng từ 15/5
Bộ Y tế siết chặt quản lý lựa chọn giới tính thai nhi
Tin vui cho hàng triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ngay từ 1/7/2026: Hàng loạt quyền lợi mới đáng chú ý
Cùng chuyên mục
Thai phụ có thể biết giới tính thai nhi khi cần chẩn đoán bệnh
Lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài cần rõ chi phí từ đầu
Từ 10/9, vi phạm quyền lao động nữ có thể bị phạt 40 triệu đồng
Quyền lợi thai sản tự nguyện cho nữ lao động phi chính thức
Nhà ở cho thuê cần tính đến phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ
Làm bán thời gian vẫn có thể tham gia bảo hiểm thất nghiệp