![]() |
| ThS. Đặng Thị Thúy Yên trình bày luận án trước Hội đồng đánh giá cấp Viện ngày 9/9/2026. Ảnh: Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam. |
Ở thế hệ thứ ba, năng suất trứng đến 38 tuần tuổi của dòng gà mái MLV đạt trung bình 61,78 quả trước chọn lọc, so với 58,32 quả ở thế hệ xuất phát. Phân tích giá trị giống cho thấy mức tiến bộ di truyền trung bình 2,46 quả mỗi thế hệ. Dòng trống CTN lại được chọn theo một hướng khác: tăng khối lượng cơ thể. Hai đường chọn lọc ấy sau đó gặp nhau ở tổ hợp CTNMLV dành cho nuôi thịt.
Đó là phần việc chính trong nghiên cứu của ThS. Đặng Thị Thúy Yên, Trưởng Bộ môn Chăn nuôi – Thú y, Khoa Nông – Lâm, Trường Đại học Tây Bắc. Ngày 9/9/2026, luận án “Chọn tạo hai dòng gà CTN và MLV từ nguồn gen bản địa và nhập nội” của bà được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Viện tại Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam bỏ phiếu tán thành 7/7. Ba công trình liên quan đến luận án đã được công bố trong năm 2025, trong đó ThS. Đặng Thị Thúy Yên đứng tên đầu.
Hai dòng gà, hai mục tiêu chọn lọc khác nhau
CTN và MLV không phải hai cách đặt tên cho cùng một tổ hợp lai. Thiết kế nghiên cứu tách rõ hai mục tiêu. Dòng trống CTN được hình thành từ gà Chọi và dòng TN nhập nội, sau quá trình lai cấp tiến có tỷ lệ nguồn gen dự kiến 3/4 Chọi và 1/4 TN. Dòng mái MLV được tạo theo cách tương tự, với 3/4 nguồn gen gà Mía và 1/4 LV. CTN được chọn theo hướng nâng khối lượng cơ thể, còn MLV được chọn theo năng suất trứng.
Điểm đáng quan tâm không nằm ở thao tác lai ban đầu mà ở những gì diễn ra sau đó. Nghiên cứu kéo dài từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2024 tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên thuộc Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương. Thế hệ xuất phát và thế hệ thứ nhất được chọn theo giá trị kiểu hình; sang thế hệ thứ hai và thứ ba, nhóm chuyển sang chọn theo giá trị giống ước tính. Hệ phả, khối lượng cơ thể, năng suất trứng cùng các dữ liệu cá thể được theo dõi qua từng thế hệ.
Với CTN, nhóm xây dựng 20 gia đình; MLV có 40 gia đình và thực hiện luân chuyển gà trống nhằm hạn chế đồng huyết. Gà được nhận diện từ khi còn nhỏ, theo dõi cá thể trong giai đoạn sinh sản; trứng giống cũng được đánh dấu để truy ngược theo con mẹ, gia đình và dòng. Đây là phần ít dễ nhìn thấy hơn một phép lai, nhưng lại quyết định việc một quần thể có thể tiếp tục được chọn ổn định qua nhiều thế hệ hay không.
Cách làm này đặt nghiên cứu vào một bài toán quen thuộc của chọn giống: cá thể biểu hiện tốt ở hiện tại chưa phải là toàn bộ câu trả lời; điều người làm giống cần biết còn là khả năng truyền tính trạng đó sang thế hệ sau.
![]() |
| ThS. Đặng Thị Thúy Yên phát biểu tại Hội đồng đánh giá luận án ngày 9/9/2026. Ảnh: Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam. |
Dữ liệu của CTN và MLV cũng chỉ ra một bài toán phải cân nhắc trong chọn lọc. Ở cả hai dòng, khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi và năng suất trứng đến 38 tuần tuổi có tương quan di truyền âm. Với CTN, hệ số tương quan di truyền giữa hai tính trạng thay đổi từ -0,66 ở thế hệ thứ nhất xuống -0,17 ở thế hệ thứ ba; ở MLV, các giá trị tương ứng dao động từ -0,23 đến -0,14. Nói cách khác, chọn mạnh cho một đặc điểm có thể đi kèm biến động ở đặc điểm còn lại, vì vậy chương trình chọn giống phải xác định rõ dòng nào đảm nhiệm chức năng nào.
Từ hai dòng bố mẹ đến tổ hợp nuôi thịt
Ở MLV, hướng chọn nâng năng suất trứng tạo ra một diễn biến có thể theo dõi bằng số liệu. Năng suất đến 38 tuần tuổi trước chọn lọc tăng từ 58,32 quả ở thế hệ xuất phát lên 61,78 quả ở thế hệ thứ ba. Hệ số biến động đồng thời giảm từ 22,87% xuống 20,35%. Đến 68 tuần tuổi, năng suất trứng của các thế hệ được ghi nhận trong khoảng 141,68–148,58 quả/mái; lượng thức ăn tính cho 10 quả trứng giảm từ 3,12 kg ở thế hệ xuất phát xuống 2,86 kg ở thế hệ thứ ba.
Sau khi có hai dòng theo hai hướng khác nhau, nghiên cứu sử dụng trống CTN phối với mái MLV để đánh giá đàn bố mẹ và tạo gà thương phẩm CTNMLV. Ở đàn bố mẹ này, tỷ lệ trứng có phôi được ghi nhận ở mức 94,28%, tỷ lệ nở trên tổng số trứng ấp 82,10%, còn năng suất trứng đạt 148,72 quả/mái đến 68 tuần tuổi. Đây là kết quả trong điều kiện nghiên cứu, không phải số liệu đại diện cho mọi điều kiện chăn nuôi.
![]() |
| Đại diện cơ sở đào tạo trao giấy chứng nhận và hoa chúc mừng ThS. Đặng Thị Thúy Yên sau phiên đánh giá luận án ngày 9/9/2026. Ảnh: Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam. |
Với gà thương phẩm CTNMLV, khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi đạt 1.070,43 g và đến 16 tuần tuổi đạt 2.098,44 g. Ở mốc 16 tuần, mức này thấp hơn dòng CTN 131,84 g nhưng cao hơn MLV 232,98 g. Nghiên cứu tính ưu thế lai về khối lượng cơ thể ở mức 2,73%. Tỷ lệ thịt xẻ được ghi nhận là 74,87%; tỷ lệ thịt đùi 22,13% và thịt lườn 20,81%.
Những con số đó cần được đặt đúng phạm vi. Công trình xác lập kết quả chọn tạo và các chỉ tiêu trong đàn thí nghiệm; chúng chưa phải căn cứ để khẳng định CTN, MLV hay CTNMLV đã được thương mại hóa rộng rãi hoặc tạo ra một mức hiệu quả kinh tế cố định ngoài sản xuất. Giá trị rõ nhất ở thời điểm này nằm ở quá trình chọn lọc có dữ liệu, theo dõi qua nhiều thế hệ và việc phân tách chức năng của dòng trống, dòng mái trước khi tạo con lai thương phẩm.
Đáng chú ý, CTN và MLV không kết thúc cùng luận án. Trong danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ mở mới năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa CTN, HTP, MLV và RTN vào nhiệm vụ “Chọn lọc bình ổn năng suất 4 dòng gà lông màu”, thời gian thực hiện 2026–2028. Với MLV, yêu cầu đặt ra gồm duy trì đàn 600 mái và 100 trống, năng suất tối thiểu 148 quả/mái đến 68 tuần tuổi cùng các chỉ tiêu về khối lượng, tiêu tốn thức ăn và sinh sản; CTN cũng có bộ chỉ tiêu riêng cho dòng trống.
Điều này khiến mốc tháng 9/2026 của ThS. Đặng Thị Thúy Yên có ý nghĩa hơn một buổi đánh giá luận án. Một chu kỳ nghiên cứu đã khép lại đủ để công bố số liệu và bảo vệ học thuật, trong khi chính vật liệu chọn giống mà công trình theo đuổi đang bước sang giai đoạn tiếp tục bình ổn năng suất. Công việc phía sau những ký hiệu CTN, MLV vì thế vẫn là câu chuyện của nhiều thế hệ đàn giống, dữ liệu và những lần chọn lọc tiếp theo.





















GS.TS Nguyễn Thị Lang: “Nông nghiệp không chỉ cần năng suất, mà cần giá trị cho người nông dân"
PGS.TS. AHLĐ Nguyễn Thị Trâm: "Nếu không có chính sách đủ mạnh, rất khó thu hút người trẻ đến với nông nghiệp"
Chọn giống tốt, dùng AI đúng cách: Góc nhìn từ hai nữ trí thức Việt tại châu Âu
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Cùng chuyên mục
ThS. Đặng Thị Thúy Yên chọn tạo hai dòng gà từ nguồn gen nội và nhập
Những túi sinh học siêu nhỏ có thể mang thuốc tới tế bào ung thư
Từ nghiên cứu dioxin đến hành trình đưa khoa học ra cộng đồng
Nhận diện sớm gen kháng thuốc cùng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hoài
Từ dương xỉ, PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh tìm hướng hỗ trợ kháng sinh
Từ vật liệu nano đến cảm biến glucose của PGS.TS Trần Thị Luyến