Chính sách bình đẳng giới đã có thêm nhiều bước tiến trong những năm gần đây. Luật pháp được sửa đổi, các chiến lược quốc gia được ban hành và nhiều chính phủ đưa vấn đề giới vào chương trình phát triển. Tuy nhiên, quyền được ghi trong văn bản chưa đồng nghĩa phụ nữ có thể thực sự sử dụng quyền đó trong đời sống.
Từ năm 2019 đến 2025, thế giới ghi nhận 99 cải cách pháp luật nhằm thúc đẩy bình đẳng giới. Các thay đổi tập trung vào phòng, chống bạo lực gia đình, xử lý hiếp dâm, ngăn ngừa tảo hôn và dỡ bỏ một số hạn chế đối với việc làm của phụ nữ. Dù vậy, không quốc gia nào đạt đầy đủ các yêu cầu được đánh giá trong chỉ số pháp lý về bình đẳng và không phân biệt đối xử của Mục tiêu phát triển bền vững số 5.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Khoảng cách lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở việc thiếu luật. Nhiều quốc gia đã có quy định nhưng thiếu ngân sách, cơ quan thực hiện, dữ liệu theo dõi, dịch vụ hỗ trợ và cơ chế buộc tổ chức vi phạm phải chịu trách nhiệm.
Nhiều cải cách nhưng hệ thống pháp luật vẫn chưa đầy đủ
Trong số 131 quốc gia có dữ liệu, chỉ 44% cấm cả phân biệt đối xử trực tiếp và gián tiếp trên cơ sở giới. Chỉ 38% có quy định về hiếp dâm dựa trên nguyên tắc không có sự đồng thuận, đồng thời xử lý rõ hành vi hiếp dâm trong hôn nhân. Gần một nửa số quốc gia vẫn hạn chế phụ nữ làm một số công việc giống nam giới.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Quy định về độ tuổi kết hôn cũng còn nhiều ngoại lệ. Chỉ 23% số quốc gia được khảo sát quy định tuổi kết hôn tối thiểu là 18 mà không cho phép ngoại lệ. Điều này đồng nghĩa một bộ phận trẻ em gái vẫn có thể bước vào hôn nhân trước tuổi trưởng thành dù luật chung tuyên bố bảo vệ trẻ em.
Những con số trên cho thấy việc một quốc gia có luật về bình đẳng giới chưa đủ để kết luận hệ thống pháp luật đã bảo đảm quyền bình đẳng. Cần xem luật bao phủ những lĩnh vực nào, ngoại lệ được quy định ra sao và người bị xâm phạm có thể sử dụng cơ chế nào để bảo vệ mình.
![]() |
| Trẻ em gái vẫn có thể bước vào hôn nhân trước tuổi trưởng thành dù luật chung tuyên bố bảo vệ trẻ em |
Một điều khoản cấm phân biệt đối xử trực tiếp sẽ không xử lý được những quy định tưởng như trung lập nhưng gây bất lợi đặc biệt cho phụ nữ. Chẳng hạn, tiêu chí làm việc ngoài giờ liên tục có thể áp dụng cho mọi lao động, nhưng lại tác động nặng hơn đến nhóm đang phải gánh phần lớn trách nhiệm chăm sóc.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Chính sách muốn có hiệu quả phải nhận diện cả những rào cản công khai lẫn những quy định tạo ra bất bình đẳng một cách gián tiếp.
Quyền trên giấy chưa trở thành cơ hội trong đời sống
Báo cáo Women, Business and the Law 2026 của Ngân hàng Thế giới đánh giá môi trường pháp lý và chính sách tại 190 nền kinh tế. Kết quả cho thấy không nền kinh tế nào bảo đảm đầy đủ cơ hội kinh tế bình đẳng cho phụ nữ.
Trên phạm vi toàn cầu, phụ nữ chỉ được hưởng khoảng hai phần ba số quyền kinh tế mà nam giới có. Chỉ 4% phụ nữ sống tại những nền kinh tế được đánh giá là tiến gần đến bình đẳng pháp lý đầy đủ.
![]() |
| Báo cáo về Mục tiêu phát triển bền vững năm 2025 cho thấy chỉ 26% trong số 121 quốc gia và vùng lãnh thổ có hệ thống toàn diện để theo dõi nguồn lực dành cho bình đẳng giới |
Báo cáo không chỉ xem xét các quy định được ghi trong luật mà còn đánh giá chính sách hỗ trợ và mức độ thực thi. Kết quả cho thấy chưa đến một nửa số chính sách, thiết chế cần thiết để đưa luật vào đời sống đã được xây dựng. Các chuyên gia pháp lý tham gia khảo sát nhận định luật thúc đẩy cơ hội kinh tế của phụ nữ mới được thực thi ở mức khoảng một nửa.
Đây là khoảng cách giữa quyền pháp lý và khả năng sử dụng quyền. Một phụ nữ có thể được luật cho phép làm việc, sở hữu tài sản hoặc thành lập doanh nghiệp, nhưng vẫn khó tiếp cận tín dụng, dịch vụ chăm sóc trẻ, tư vấn pháp lý hoặc cơ chế khiếu nại an toàn.
Nếu người lao động không biết quyền của mình, không thể thu thập bằng chứng hoặc lo bị trả đũa khi tố cáo, quy định chống phân biệt đối xử rất khó phát huy tác dụng. Luật đúng nhưng hệ thống thực hiện yếu vẫn có thể để lại kết quả bất bình đẳng.
Ngân sách quyết định chính sách có được thực hiện hay không
Một chiến lược bình đẳng giới không thể hoạt động chỉ bằng mục tiêu và khẩu hiệu. Mọi cam kết đều cần nguồn lực để duy trì cơ quan chuyên trách, đào tạo cán bộ, thu thập dữ liệu, vận hành dịch vụ hỗ trợ và đánh giá kết quả.
Báo cáo về Mục tiêu phát triển bền vững năm 2025 cho thấy chỉ 26% trong số 121 quốc gia và vùng lãnh thổ có hệ thống toàn diện để theo dõi nguồn lực dành cho bình đẳng giới. Tỷ lệ này không thay đổi từ năm 2021. Dữ liệu năm 2026 tiếp tục cho thấy mới khoảng một phần tư số quốc gia có hệ thống ngân sách đáp ứng đầy đủ yêu cầu về giới.
Ngân sách có trách nhiệm giới không có nghĩa lập một khoản tiền riêng chỉ dành cho phụ nữ. Đây là quá trình đánh giá nguồn thu, chi tiêu công và các chương trình phát triển tác động khác nhau thế nào đến phụ nữ, nam giới và những nhóm dân cư cụ thể.
Một chính sách giao thông có thể được xem là trung lập, nhưng sẽ chưa đáp ứng nhu cầu của phụ nữ nếu không tính đến an toàn tại điểm chờ, lịch trình của người chăm sóc trẻ hoặc khả năng tiếp cận của người làm việc không theo giờ hành chính.
Tương tự, việc mở rộng thị trường lao động sẽ khó tạo cơ hội bình đẳng nếu ngân sách không dành cho nhà trẻ, chăm sóc người cao tuổi, giao thông công cộng và các dịch vụ giúp giảm gánh nặng chăm sóc không được trả công.
Nếu chính phủ không xác định rõ chi phí, đơn vị chịu trách nhiệm và nguồn tiền thực hiện, mục tiêu bình đẳng giới dễ trở thành một phần phụ trong kế hoạch phát triển.
Chính sách toàn diện giúp giảm bạo lực rõ rệt
Dữ liệu về bạo lực đối với phụ nữ cho thấy luật pháp có thể tạo ra khác biệt, nhưng chỉ khi đi cùng một hệ thống chính sách đầy đủ.
Báo cáo Gender Snapshot 2025 của UN Women và Cơ quan Liên Hợp Quốc về các vấn đề kinh tế và xã hội cho biết tỷ lệ bạo lực do bạn đời gây ra thấp hơn 2,5 lần tại những quốc gia có biện pháp toàn diện so với các quốc gia có cơ chế bảo vệ yếu.
![]() |
| Phụ nữ bị bạo lực cần nơi tạm lánh, dịch vụ y tế, hỗ trợ tâm lý, tư vấn pháp luật |
Các biện pháp toàn diện không chỉ gồm luật hình sự. Chúng còn bao gồm chính sách phòng ngừa, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, nghiên cứu và dữ liệu, dịch vụ hỗ trợ nạn nhân, ngân sách và hoạt động thay đổi những chuẩn mực dung thứ cho bạo lực.
Bài học chính sách ở đây khá rõ: tăng hình phạt không thể thay thế toàn bộ hệ thống bảo vệ.
Một người bị bạo lực cần nơi tạm lánh, dịch vụ y tế, hỗ trợ tâm lý, tư vấn pháp luật, khả năng bảo đảm sinh kế và biện pháp ngăn người gây bạo lực tiếp tục tiếp cận. Nếu thiếu những điều kiện này, nạn nhân có thể không thể rời khỏi môi trường nguy hiểm dù luật đã quy định quyền được bảo vệ.
Hiệu quả của chính sách cần được đo bằng mức độ an toàn và khả năng tiếp cận công lý của phụ nữ, không phải chỉ bằng số văn bản đã ban hành.
Quyền đất đai vẫn là khoảng trống lớn
Đất đai là nguồn lực sản xuất, tài sản bảo đảm và nền tảng sinh kế của nhiều gia đình. Tuy nhiên, quyền sở hữu và kiểm soát đất của phụ nữ vẫn chưa được bảo vệ tương xứng.
Trong 68 trên 78 quốc gia có dữ liệu, chưa đến một nửa số phụ nữ thuộc các hộ nông nghiệp cho biết họ sở hữu hoặc có quyền sử dụng đất nông nghiệp được bảo đảm. Tại 23 quốc gia, tỷ lệ nam giới có quyền sở hữu đất cao ít nhất gấp đôi phụ nữ.
Khoảng hai phần ba trong gần 100 quốc gia báo cáo chưa có khung pháp lý toàn diện để bảo đảm quyền sử dụng đất. Hơn 40% không bảo đảm đầy đủ sự đồng thuận của vợ hoặc chồng trong giao dịch, hoặc quyền thừa kế bình đẳng. Chưa đến 30% yêu cầu đăng ký đất chung hoặc bảo đảm phụ nữ tham gia bình đẳng vào quản trị đất đai.
Một quy định chung về quyền sở hữu tài sản chưa chắc bảo vệ được phụ nữ nếu giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người, phong tục ưu tiên con trai hoặc thủ tục thừa kế khiến phụ nữ khó chứng minh quyền của mình.
Chính sách đất đai cần được xem xét từ quá trình đăng ký, thừa kế, chuyển nhượng, tiếp cận tín dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp. Nếu không, quyền bình đẳng có thể tồn tại trong luật dân sự nhưng biến mất khi áp dụng tại từng gia đình và cộng đồng.
Phản ứng ngược có thể làm đảo chiều thành quả
Tiến bộ về quyền phụ nữ không phải quá trình chỉ đi theo một hướng.
Trong năm 2024, gần một phần tư số chính phủ trên thế giới báo cáo xuất hiện phản ứng ngược đối với quyền của phụ nữ. Biểu hiện gồm gia tăng phân biệt đối xử, suy yếu cơ chế bảo vệ pháp lý và cắt giảm tài chính dành cho chương trình, tổ chức hỗ trợ phụ nữ.
UN Women cảnh báo các phong trào chống bình đẳng giới đang có thêm ảnh hưởng và khả năng huy động. Những xu hướng này không chỉ tác động đến quyền phụ nữ mà còn có thể làm suy yếu các thiết chế nhân quyền và dân chủ.
Điều đó đặt ra yêu cầu chính sách phải có khả năng bảo vệ những thành quả đã đạt được. Một chương trình phụ thuộc vào nhiệm kỳ chính trị hoặc nguồn tài trợ ngắn hạn có thể bị thu hẹp khi ưu tiên của chính phủ thay đổi.
Các cơ quan bình đẳng giới cần có chức năng rõ ràng, nhân lực chuyên môn, nguồn ngân sách ổn định và quyền tham gia vào quá trình xây dựng chính sách của các ngành khác. Các tổ chức xã hội và người bảo vệ quyền phụ nữ cũng cần môi trường hoạt động an toàn.
Nếu không có nền tảng thể chế đủ vững, những quyền đã được xác lập vẫn có thể bị hạn chế hoặc rút lại.
Không thể giao toàn bộ trách nhiệm cho một cơ quan chuyên trách
Bình đẳng giới thường được giao cho một bộ, ủy ban hoặc đơn vị chuyên môn. Cơ quan này cần thiết nhưng không thể thay thế trách nhiệm của toàn bộ hệ thống nhà nước.
Chính sách lao động quyết định cơ hội việc làm và chế độ nghỉ chăm con. Chính sách tài chính quyết định nguồn lực. Quy hoạch đô thị ảnh hưởng đến an toàn và khả năng di chuyển. Giáo dục tác động đến định kiến nghề nghiệp. Y tế quyết định khả năng tiếp cận dịch vụ sinh sản và hỗ trợ người bị bạo lực.
Do đó, bình đẳng giới phải được lồng ghép trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách của từng ngành. Việc chỉ lấy ý kiến cơ quan phụ trách giới ở giai đoạn cuối khó sửa được những bất bình đẳng đã được đưa vào thiết kế chương trình từ đầu.
Lồng ghép giới cũng không phải thêm một đoạn nói về phụ nữ trong mọi văn bản. Cơ quan xây dựng chính sách cần xác định nhóm nào được hưởng lợi, nhóm nào có thể chịu tác động bất lợi, dữ liệu nào còn thiếu và biện pháp nào giúp phân bổ nguồn lực công bằng hơn.
Dữ liệu phải chỉ ra ai đang bị bỏ lại
Một chính sách có thể đạt chỉ tiêu chung nhưng vẫn bỏ sót những nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương.
Số liệu trung bình toàn quốc khó phản ánh đầy đủ hoàn cảnh của phụ nữ nghèo, phụ nữ nông thôn, người khuyết tật, người di cư, phụ nữ thuộc cộng đồng thiểu số hoặc sống trong khu vực xung đột.
Dữ liệu vì thế cần được phân tách theo giới tính, tuổi, địa bàn, thu nhập, tình trạng khuyết tật và những yếu tố liên quan. Nếu chỉ biết tỷ lệ việc làm chung tăng, cơ quan quản lý sẽ không xác định được nhóm nào đang tập trung trong công việc phi chính thức, thu nhập thấp hoặc thiếu bảo hiểm xã hội.
Thu thập dữ liệu cũng phải đi cùng trách nhiệm sử dụng. Một hệ thống thống kê đầy đủ nhưng không làm thay đổi cách phân bổ ngân sách hoặc thiết kế dịch vụ sẽ không tạo ra tiến bộ thực chất.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Chỉ số quan trọng không phải số hội nghị, chiến dịch hay văn bản đã được ban hành. Chính sách cần trả lời được phụ nữ có an toàn hơn không, thu nhập có cải thiện không, quyền tài sản có được bảo đảm không và khả năng tiếp cận công lý có thực sự dễ dàng hơn không.
Năm điều kiện để chính sách đi vào đời sống
Trước hết, hệ thống pháp luật phải đầy đủ và nhất quán. Những quy định phân biệt đối xử, ngoại lệ về độ tuổi kết hôn, giới hạn nghề nghiệp và bất bình đẳng trong tài sản, thừa kế cần được rà soát và loại bỏ.
Thứ hai, mỗi chính sách phải xác định rõ cơ quan thực hiện, trách nhiệm phối hợp và cơ chế xử lý khi không hoàn thành nhiệm vụ. Không thể để một quyền quan trọng tồn tại nhưng không có đơn vị chịu trách nhiệm bảo đảm.
Thứ ba, nguồn ngân sách phải được tính toán ngay từ khi xây dựng chính sách. Kinh phí cần đủ cho dịch vụ, nhân lực, dữ liệu, giám sát và hỗ trợ những người trực tiếp thực hiện.
Thứ tư, người dân phải có khả năng tiếp cận cơ chế khiếu nại và công lý. Thủ tục cần rõ ràng, chi phí phù hợp, bảo mật và bảo vệ người phản ánh khỏi bị trả đũa.
Cuối cùng, kết quả phải được đánh giá bằng thay đổi trong đời sống. Số lượng văn bản chỉ phản ánh hoạt động của bộ máy; nó chưa chứng minh phụ nữ đã được hưởng quyền bình đẳng.
Thước đo cuối cùng nằm ngoài văn bản pháp luật
Từ năm 2023 đến 2025, 68 nền kinh tế đã thực hiện 113 cải cách nhằm mở rộng cơ hội kinh tế của phụ nữ. Đây là một tín hiệu tích cực, nhưng Ngân hàng Thế giới vẫn nhận định khoảng cách giữa luật pháp, chính sách hỗ trợ và thực thi còn rất lớn.
Cải cách pháp luật là bước khởi đầu cần thiết. Tuy nhiên, quyền chỉ trở thành hiện thực khi phụ nữ có thể tiếp cận việc làm, tài sản, dịch vụ, nguồn lực tài chính và công lý mà không phải vượt qua những rào cản cao hơn nam giới.
Chính sách bình đẳng giới vì thế không thể được đánh giá bằng độ dài của chiến lược hay số lượng cam kết. Thước đo đáng tin cậy hơn nằm trong đời sống hằng ngày: phụ nữ có được bảo vệ khi gặp bạo lực, có quyền quyết định tài sản, được trả công công bằng và có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ mình hay không.
Khoảng cách giữa văn bản và thực thi càng lớn, niềm tin vào chính sách càng suy giảm. Thu hẹp khoảng cách đó là điều kiện để bình đẳng giới vượt khỏi những tuyên bố đúng đắn và trở thành quyền mà mọi phụ nữ, trẻ em gái có thể thực sự sử dụng.


























Bình đẳng giới toàn cầu: Tiến bộ có, khoảng cách còn dài
Bình đẳng giới không phải ưu ái, mà là trao cơ hội ngang bằng
Thúc đẩy bình đẳng giới và an toàn cho phụ nữ, trẻ em gái trong kỷ nguyên số
Việt Nam 30 năm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh vì bình đẳng giới
Việt Nam khẳng định cam kết thúc đẩy bình đẳng giới tại Liên hợp quốc
Việt Nam tái khẳng định cam kết thúc đẩy bình đẳng giới tại Liên Hợp Quốc
Cùng chuyên mục
Chính sách bình đẳng giới chưa đi hết chặng đường thực thi
Từ 10/9: Doanh nghiệp vi phạm quyền lao động nữ có thể bị phạt tới 20 triệu đồng
Lao động nữ: Được nghỉ 30 phút/ngày trong thời gian làm việc khi tới kỳ “đèn đỏ”
Tạo cơ hội bình đẳng hơn cho phụ nữ trong thể thao ASEAN
Mở rộng “cánh cửa công lý” cho người yếu thế từ năm 2027
Tháo gỡ điểm nghẽn để tiến tới bình đẳng giới thực chất