![]() |
| ThS, Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Huệ chơi đàn đáy trong một buổi thực hành ca trù cùng nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc. Ảnh trích từ video của Sound Futures, giấy phép CC BY 3.0. |
Một người học ca trù theo lối cũ có thể phải ở bên người thầy trong thời gian dài, nghe, quan sát rồi bắt chước từng cách nhả chữ, tiếng phách, ngón đàn. Với một di sản mà số người đủ khả năng truyền nghề ngày càng ít, câu hỏi khó không chỉ là làm sao giữ lại những bài bản cũ, mà còn là làm thế nào để hình thành được những người thực hành mới.
ThS, Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Huệ chọn đi vào chính nút thắt đó. Hồ sơ hiện hành của Khoa Âm nhạc Truyền thống, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam ghi bà là giảng viên tỳ bà, trình độ thạc sĩ và mang danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú. Điều đáng chú ý trong hành trình của bà không nằm ở việc có thêm một nghệ sĩ biểu diễn ca trù, mà ở cách kinh nghiệm sư phạm âm nhạc chính quy được đưa vào một phương thức truyền nghề vốn dựa nhiều vào quan hệ thầy – trò và thực hành trực tiếp.
Đi học nghề khi đã là người dạy nhạc
Phạm Thị Huệ bước vào môi trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp từ nhỏ. Tài liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho biết bà thi vào Nhạc viện Hà Nội khi 8 tuổi, học đàn tỳ bà trong 15 năm, tốt nghiệp năm 1996 rồi ở lại giảng dạy. Khoảng năm 2000, cuộc gặp với nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc đưa bà tới ca trù, một thế giới âm nhạc khác với con đường đào tạo mà bà đã quen thuộc.
Ở đây xuất hiện một chi tiết quan trọng đối với chân dung một nữ trí thức văn hóa: bà bước vào di sản với tư cách vừa là người học, vừa mang theo vốn tri thức của một giáo viên âm nhạc. Phạm Thị Huệ học từ các nghệ nhân theo lối truyền nghề trực tiếp, nhưng khi bắt đầu truyền lại cho người trẻ, bà không sao chép nguyên xi phương thức mình đã trải qua.
Một nghiên cứu đăng trên Finnish Journal of Music Education năm 2010 nhìn khá kỹ vào trường hợp này. Tác giả nhận diện một trong những khó khăn của ca trù lúc ấy là thiếu một hệ thống đào tạo có tính liên tục, trong khi việc học trước đây gắn chặt với những gia đình có truyền thống ca trù. Năm 2006, Phạm Thị Huệ thành lập nhóm Ca trù Thăng Long với mục tiêu được nghiên cứu này mô tả khá rõ: hướng tới đào tạo những người có thể trở thành nghệ sĩ ca trù chuyên nghiệp.
Đây là khác biệt đáng kể. Giữ một làn điệu khỏi biến mất và đào tạo một người đủ khả năng đứng vào canh hát là hai công việc không hoàn toàn giống nhau.
Ca trù hiện vẫn nằm trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của UNESCO. UNESCO nhấn mạnh một trong những nguy cơ đối với sức sống của di sản là số người có đủ kiến thức, kỹ năng để biểu diễn và truyền dạy còn hạn chế; quyết định ghi danh năm 2009 cũng đặc biệt lưu ý việc đầu tư vào con người và hoạt động giáo dục.
Phụ nữ Mới từng giới thiệu cấu trúc một canh hát với ca nương, đàn đáy và trống chầu trong bài Ca trù Việt Nam được Google Doodle tôn vinh. Đây cũng là nền để thấy việc đào tạo người mới không đơn giản là học thuộc một bài hát, mà phải hình thành khả năng phối hợp trong một hệ thống diễn xướng nhiều thành phần.
![]() |
| Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và Phạm Thị Huệ trong không gian thực hành ca trù. Hình lấy từ video Sound Futures; trong mô tả tệp, Wikimedia Commons xác định Nguyễn Thị Chúc là người hát và Phạm Thị Huệ chơi đàn đáy. Nguồn: Sound Futures/Wikimedia Commons, CC BY 3.0. |
Học để bước ra một canh hát thật
Một điểm đáng chú ý trong cách Phạm Thị Huệ tổ chức việc học là không tách kỹ thuật khỏi hoạt động biểu diễn.
Nghiên cứu về Ca trù Thăng Long cho biết học viên được đưa vào các buổi diễn, đồng thời làm quen với những công việc xung quanh một chương trình như chuẩn bị nội dung giới thiệu, âm thanh, ánh sáng và tổ chức buổi diễn. Mục tiêu vì vậy rộng hơn chuyện đánh đúng một ngón đàn hay hát đúng một câu: người học phải dần hiểu cách làm việc như một người biểu diễn.
Các buổi học còn diễn ra trong không gian gần với nơi học viên sẽ biểu diễn sau này. Đây là một lựa chọn sư phạm có chủ đích: thay vì học hoàn toàn trong môi trường lớp học rồi mới tìm cách áp dụng, người học tiếp xúc sớm với hoàn cảnh thật của nghề. Nghiên cứu nhận xét Ca trù Thăng Long lúc ấy đứng ở khoảng giữa hai cách đào tạo: một bên là giảng dạy có tính thiết chế của học viện, bên kia là hình thức ngấm nghề và học việc truyền thống.
Điểm này giúp phân biệt “bảo tồn” với việc đặt một di sản vào tủ kính. Một bản ghi có thể giữ lại âm thanh; tư liệu có thể lưu được bài bản. Nhưng muốn một loại hình trình diễn tiếp tục sống, vẫn cần người biết hát, biết đàn, biết nghe nhau và đủ khả năng bước lên sân khấu.
Một dự án nghiên cứu về tính bền vững của các nền văn hóa âm nhạc do Smithsonian giới thiệu cũng sử dụng chính trường hợp ca trù và hình ảnh Phạm Thị Huệ học cùng nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc để chỉ ra giới hạn của cách bảo tồn chỉ bằng ghi âm, ghi chép. Một truyền thống sống cần cả hệ sinh thái gồm người học, người dạy, môi trường biểu diễn và công chúng.
![]() |
| Một buổi biểu diễn ca trù tại Hà Nội với ca nương, người chơi đàn đáy và trống chầu. Ảnh: Michael Coghlan/Wikimedia Commons, CC BY-SA 2.0. Ảnh gốc 1.545 × 1.135 px. |
Tạo người kế tục thay vì chỉ giữ bản ghi
Nhìn lại hành trình ấy sau gần hai thập niên, giá trị đáng quan tâm không phải là khẳng định một mô hình duy nhất đúng cho ca trù. Chính nghiên cứu năm 2010 cũng ghi nhận những tranh luận trong cộng đồng về tốc độ đào tạo, kinh nghiệm người dạy và cách thích ứng truyền thống. Đó là giới hạn cần được nói rõ thay vì biến câu chuyện bảo tồn thành một chân dung chỉ toàn những lời ca ngợi.
Điểm có thể kiểm chứng là Phạm Thị Huệ vẫn nằm trong danh sách giảng viên Khoa Âm nhạc Truyền thống của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam với chuyên môn tỳ bà. Năm 2023, Đài Tiếng nói Việt Nam giới thiệu bà với danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú và ghi nhận hoạt động truyền dạy ca trù cho người trẻ.
Ở một nhánh khác của đời sống di sản, Ca trù Thăng Long vẫn hiện diện tại khu phố cổ Hà Nội. Bài viết của Phụ nữ Mới về bảo tồn di sản năm 2024 ghi nhận các nghệ nhân của giáo phường biểu diễn ba buổi mỗi tuần tại ngôi nhà di sản 87 Mã Mây. Điều đó cho thấy một mắt xích quan trọng của di sản vẫn được duy trì: ca trù có một nơi để được nghe trong đời sống thực, thay vì chỉ tồn tại trong giáo trình hay kho lưu trữ.
Phụ nữ Mới đã đề cập không gian biểu diễn ca trù tại 87 Mã Mây trong câu chuyện rộng hơn về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.
Đây cũng là lý do Phạm Thị Huệ phù hợp với chuyên mục Nữ Trí thức mà không cần phải là một nhà khoa học. Phần đóng góp tri thức ở trường hợp này nằm trong năng lực tích lũy kiến thức chuyên môn, học từ những người nắm giữ di sản, chuyển hóa kinh nghiệm thành phương pháp truyền dạy và tạo điều kiện để thế hệ sau thực hành được nghề.
UNESCO hiện vẫn xếp ca trù trong nhóm cần bảo vệ khẩn cấp và báo cáo định kỳ của Việt Nam về di sản này tiếp tục được thực hiện. Vì thế, bài toán truyền nghề chưa phải câu chuyện đã hoàn tất.
Một di sản có thể được nhớ đến nhờ những nghệ nhân lớn. Nhưng khả năng sống tiếp của nó cuối cùng lại phụ thuộc vào câu hỏi khó hơn: sau người thầy hôm nay, có đủ người để hát, đàn, dạy và tạo ra những canh hát của ngày mai hay không.
Người học ca trù phải học những gì?
Ca trù không chỉ là hát. UNESCO mô tả một nhóm biểu diễn điển hình gồm nữ ca sĩ vừa hát vừa sử dụng phách, người chơi đàn đáy và người đánh trống chầu. Di sản có nhiều thể cách khác nhau và trước đây chủ yếu được truyền bằng phương thức truyền khẩu, truyền nghề.
Điều này giải thích vì sao việc tạo lớp kế cận đòi hỏi nhiều hơn lưu giữ bản nhạc: người học phải tiếp nhận kỹ thuật, thẩm mỹ, khả năng phối hợp và kinh nghiệm biểu diễn.





















Ca trù Việt Nam được Google Doodle tôn vinh
Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể
Nữ nghệ nhân giữ lửa cho nghệ thuật truyền thống
Ấn tượng đêm nghệ thuật "Những đóa hoa sen Việt Nam" trong Lễ ra mắt Chi hội Nữ trí thức khối Văn hoá nghệ thuật
Cùng chuyên mục
TS Nguyễn Phan Quế Mai nối văn học Việt với bạn đọc thế giới
Người giữ nhịp truyền nghề mới cho ca trù giữa lòng Hà Nội
TS Phạm Thị Thu Thúy tìm cách giúp AI y tế dễ giải thích hơn
TS. Nguyễn Thu Thủy đưa ký ức Việt vào thiết kế đương đại
PGS.TS Hoàng Cẩm Giang nhìn cảnh quan Việt qua điện ảnh
NCS. Nguyễn Thị Thu Hà đưa giá trị hệ sinh thái vào bài toán phát triển vùng ven biển