![]() |
| PGS.TS Trịnh Thị Hà trong chuyến nghiên cứu, giảng dạy tại Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan, tháng 5/2026. Ảnh: VASS. |
Một đứa trẻ biết bao nhiêu từ chưa nói hết khả năng giao tiếp của em. Điều quan trọng còn nằm ở việc trẻ có chủ động sử dụng những từ ấy trong lời nói hay không, có tạo được phát ngôn phù hợp với tình huống và có dùng ngôn ngữ để thể hiện nhu cầu của mình hay không. Với trẻ tự kỷ, những câu hỏi tưởng như rất nhỏ ấy đang trở thành đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học.
Ngày 31/3/2026, tại Viện Ngôn ngữ học, nhiệm vụ cấp Bộ “Đặc điểm vốn từ và phát ngôn của trẻ tự kỉ trong giai đoạn từ 6 đến 10 tuổi (Khảo sát trên địa bàn Hà Nội)” do PGS.TS Trịnh Thị Hà làm chủ nhiệm tổ chức hội thảo công bố một số kết quả nghiên cứu. Báo cáo của bà tập trung vào đặc điểm từ vựng trong ngôn ngữ của trẻ tự kỷ 6–10 tuổi đang học tập và sinh sống tại Hà Nội.
Kết quả được Viện Ngôn ngữ học công bố cho thấy số lượng từ vựng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm trẻ có mức độ tự kỷ khác nhau. Một điểm khác được nhóm nghiên cứu ghi nhận là số lượng từ của từng nhóm trẻ 6–10 tuổi không khác nhiều so với giai đoạn 3–6 tuổi.
Đằng sau những con số đó là bài toán không đơn giản: làm thế nào biến lời nói và cách sử dụng từ của trẻ thành dữ liệu đủ rõ để người nghiên cứu hiểu trẻ đang có năng lực ngôn ngữ ở đâu, thay vì chỉ dựa vào những nhận xét chung như “nói ít”, “chậm nói” hay “khó giao tiếp”.
Đếm từ nhưng không dừng ở số lượng
PGS.TS Trịnh Thị Hà hiện là Trưởng phòng Ngôn ngữ học Ứng dụng, Viện Ngôn ngữ học. Cơ cấu tổ chức hiện hành của Viện xác nhận bà đang phụ trách phòng chuyên môn này.
Nghiên cứu nhóm trẻ 6–10 tuổi cũng không phải lần đầu Trịnh Thị Hà tiếp cận ngôn ngữ của trẻ tự kỷ. Mục lục Tạp chí Ngôn ngữ năm 2024 ghi nhận bài “Mức độ chủ động sử dụng phát ngôn trong giao tiếp của trẻ tự kỉ từ 3 đến 6 tuổi” của Nguyễn Thị Giang và Trịnh Thị Hà, đăng số 3, trang 44–50.
Dấu nối giữa hai hướng nghiên cứu đáng chú ý ở chỗ câu hỏi không chỉ nằm ở lượng từ trẻ sở hữu. Việc một đứa trẻ biết một từ và việc em chủ động gọi đúng từ đó khi cần giao tiếp là hai tầng năng lực khác nhau. Bởi vậy, nghiên cứu vốn từ nếu tách khỏi phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp sẽ khó phản ánh đầy đủ cách trẻ thực sự sử dụng ngôn ngữ.
![]() |
| PGS.TS Trịnh Thị Hà chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo trong chuyến công tác tại Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan, tháng 5/2026. Ảnh: VASS. |
Điểm cần thận trọng là bản tin khoa học hiện công khai chưa nêu cỡ mẫu, cách lựa chọn trẻ, công cụ đánh giá vốn từ cũng như tiêu chí phân chia các nhóm mức độ tự kỷ. Bởi vậy, kết quả khảo sát tại Hà Nội chưa nên được suy rộng thành đặc điểm chung của toàn bộ trẻ tự kỷ 6–10 tuổi tại Việt Nam.
Sự thận trọng này đặc biệt cần thiết khi giải thích nguyên nhân. Bản tin của Viện cho biết nhóm nghiên cứu cho rằng lượng từ không khác nhiều so với giai đoạn 3–6 tuổi do ở giai đoạn sau trẻ chưa được can thiệp tích cực về từ vựng. Tuy nhiên, tài liệu công khai hiện chưa cung cấp đủ thiết kế nghiên cứu và dữ liệu để độc giả độc lập đánh giá mức độ chắc chắn của quan hệ nhân quả này. Vì thế, đây nên được giữ đúng ở mức nhận định được nhóm nghiên cứu đưa ra, thay vì chuyển thành một kết luận tuyệt đối về mọi trẻ tự kỷ.
Khi dữ liệu ngôn ngữ dẫn tới cách hỗ trợ trẻ
Từ kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu đề xuất sáu nhóm biện pháp phát triển ngôn ngữ, gồm giao tiếp chức năng, đưa từ vựng vào hoạt động hằng ngày, chương trình can thiệp có cấu trúc, tăng vai trò của cha mẹ và người chăm sóc, sử dụng công nghệ hỗ trợ giao tiếp AAC và cá nhân hóa nội dung, phương pháp dạy dựa trên năng lực của từng trẻ.
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận này là việc học từ không bị giới hạn vào một giờ học riêng biệt. Từ vựng được đặt trở lại những tình huống mà trẻ cần sử dụng để giao tiếp, sinh hoạt và thể hiện nhu cầu. Việc đánh giá năng lực trước khi lựa chọn nội dung hỗ trợ cũng đặt trọng tâm vào sự khác biệt giữa từng trẻ thay vì mặc định một chương trình giống nhau cho tất cả.
Sáu hướng hỗ trợ ngôn ngữ được nhóm nghiên cứu đề xuất
Từ khảo sát trẻ tự kỷ 6–10 tuổi, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Trịnh Thị Hà làm chủ nhiệm đưa ra sáu hướng: dạy từ thông qua giao tiếp chức năng; đưa từ vựng vào hoạt động hằng ngày; sử dụng chương trình can thiệp ngôn ngữ có cấu trúc; tăng sự tham gia của cha mẹ và người chăm sóc; ứng dụng công nghệ hỗ trợ giao tiếp AAC; cá nhân hóa nội dung và phương pháp dạy dựa trên đánh giá năng lực của trẻ. Đây là các đề xuất được trình bày trong báo cáo hội thảo của nhiệm vụ cấp Bộ. Khi áp dụng trên từng trẻ, mức độ phù hợp còn cần gắn với đánh giá chuyên môn và đặc điểm cá nhân.
Ở một lát cắt khác, vấn đề này gặp với câu chuyện hiểu đúng hành vi trẻ tự kỷ để không “đọc sai” con. Bài viết trên Phụ nữ Mới tháng 4/2026 chỉ ra rằng một số hành vi mà người lớn cho là khó hiểu có thể liên quan tới cách trẻ giao tiếp, thích nghi hoặc thể hiện nhu cầu. Đặt cạnh nghiên cứu ngôn ngữ, điều đó cho thấy việc hiểu trẻ cần đi từ quan sát cụ thể, không chỉ từ những phán đoán bên ngoài.
Một hướng tiếp cận tương tự về đánh giá và cá nhân hóa cũng xuất hiện trong mô hình giáo dục phi lợi nhuận dành cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Mô hình Vin Nexus Center được công bố cuối năm 2025 đặt việc đánh giá hiện trạng, xây dựng chương trình cá nhân hóa và hệ thống theo dõi dữ liệu trong cùng một quy trình hỗ trợ.
Đây không phải bằng chứng trực tiếp cho nghiên cứu của Trịnh Thị Hà, nhưng cho thấy dữ liệu đang ngày càng được đặt vào vị trí quan trọng trong giáo dục đặc biệt: trước khi quyết định trẻ cần học gì, người hỗ trợ phải biết trẻ đang có gì và gặp khó khăn cụ thể ở đâu.
Đưa ngôn ngữ học ra khỏi phạm vi mô tả
![]() |
| PGS.TS Trịnh Thị Hà cùng giảng viên và sinh viên trong hoạt động giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Nam Á, Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan (NCCU), trong chuyến công tác tháng 5/2026. Ảnh: Viện Ngôn ngữ học/VASS |
Công việc của Trịnh Thị Hà với trẻ tự kỷ nằm trong một phạm vi rộng hơn của ngôn ngữ học ứng dụng. Trong chuyến làm việc tại Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan năm 2026, bà tham gia giảng dạy và trao đổi về những vấn đề của ngôn ngữ học ứng dụng, giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, giao tiếp gia đình người Việt và trường từ vựng – ngữ nghĩa về phụ nữ trong văn học Việt Nam.
Các chủ đề khác nhau nhưng cùng cho thấy cách tiếp cận mà ngôn ngữ được đặt trong một môi trường sử dụng cụ thể: trường học, gia đình, văn học hay giao tiếp của những nhóm người có đặc điểm riêng. Với trẻ tự kỷ, điều đó đưa nhà nghiên cứu trở lại những biểu hiện rất nhỏ nhưng có thể đo đếm: trẻ biết những từ nào, sử dụng chúng ra sao và mức độ chủ động trong phát ngôn đến đâu.
Ở Việt Nam, câu chuyện hỗ trợ trẻ tự kỷ thường được nhìn nhiều từ tâm lý, giáo dục đặc biệt hoặc can thiệp hành vi. Nghiên cứu của một nhà ngôn ngữ học bổ sung một lát cắt khác: xem chính lời nói như dữ liệu cần được mô tả có hệ thống.
Giá trị của hướng nghiên cứu này vì vậy không nằm ở việc tìm ra một “công thức” chung cho trẻ tự kỷ. Ngược lại, những khác biệt về vốn từ và phát ngôn đặt ra yêu cầu phải hiểu trẻ cụ thể hơn trước khi lựa chọn cách hỗ trợ.
Những dữ liệu hiện công khai vẫn còn để ngỏ nhiều câu hỏi về mẫu nghiên cứu, phương pháp đánh giá và khả năng theo dõi sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theo thời gian. Nhưng đó cũng chính là phần việc tiếp theo mà nghiên cứu cần giải quyết nếu muốn đi từ mô tả một nhóm trẻ tới xây dựng dữ liệu ngôn ngữ đủ vững cho giáo dục và thực hành.
Với Trịnh Thị Hà, lời nói của trẻ không chỉ là những câu được nghe thấy trong lớp học hay gia đình. Khi được thu thập và phân tích có phương pháp, chúng trở thành một nguồn dữ liệu để hiểu rõ hơn trẻ đang có khả năng gì, đang gặp rào cản ở đâu và cần được hỗ trợ theo cách nào.
Nguồn box: Viện Ngôn ngữ học
Link nguồn: https://vienngonnguhoc.vass.gov.vn/tin-khoa-hoc-hop-tac-quoc-te/hoi-thao-khoa-hoc-dac-diem-von-tu-cua-tre-tu-ki-trong-giai-doan-tu-6-den-10-tuoi-562603




















Hiểu đúng hành vi trẻ tự kỷ để không “đọc sai” con
Bùi Ngọc Ánh - Nàng tiên cá mang trái tim của một cô giáo đặc biệt
Vingroup công bố mô hình giáo dục phi lợi nhuận dành cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt
Cùng chuyên mục
Tổng Giám đốc Mã Thị Loan: Chính sách mở đường, năng lực quyết định phụ nữ khởi nghiệp đi xa đến đâu
PGS.TS Trịnh Thị Hà khảo sát lời nói của trẻ tự kỷ 6–10 tuổi
NSND Trịnh Kim Chi: Phụ nữ đừng tự tạo áp lực để trở nên hoàn hảo
Nữ lãnh đạo kiến tạo giá trị mới cho nông nghiệp Đồng Nai
Tiến sĩ Phan Danh Na: Đi từ ý chí đến tri thức bằng lòng biết ơn
Người đi tìm những chuyển động đúng