![]() |
| Biển cấm hút thuốc tại một trung tâm thương mại ở Hà Nội. Giảm tỷ lệ hút thuốc ở nam giới không chỉ phụ thuộc lựa chọn cá nhân mà còn cần môi trường xã hội không bình thường hóa hành vi này. Ảnh: Vuong Tri Binh/Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. |
Nếu cứ 100 nam giới trưởng thành có khoảng 41 người hút thuốc, trong khi ở 100 phụ nữ con số chưa tới một người, đây khó chỉ được xem là khác biệt về sở thích cá nhân.
Hồ sơ thuốc lá Việt Nam do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố năm 2025 cho biết cuộc khảo sát người trưởng thành mang tính đại diện toàn quốc gần nhất mà WHO sử dụng là STEPS 2021. Trong khảo sát này, tỷ lệ hút thuốc hiện tại ở nam giới từ 15 tuổi trở lên là 41,1%, còn nữ giới là 0,6%. Khoảng cách lên tới hơn 40 điểm phần trăm.
Cần lưu ý đây là dữ liệu năm 2021, không phải tỷ lệ được đo trực tiếp trong năm 2026. WHO vẫn sử dụng STEPS 2021 trong hồ sơ quốc gia năm 2025 vì đây là khảo sát người trưởng thành toàn quốc gần nhất đáp ứng tiêu chí của tổ chức.
Điều đáng phân tích từ góc nhìn giới không phải nam giới “yếu ý chí” hơn phụ nữ. Cũng không có căn cứ để coi hút thuốc là một đặc điểm tự nhiên của đàn ông.
Khoảng cách lớn như vậy đặt ra câu hỏi khác: trong quá trình lớn lên, giao tiếp, làm việc và xây dựng hình ảnh bản thân, thuốc lá đã được bình thường hóa khác nhau như thế nào đối với nam và nữ?
Hút thuốc không phải đặc tính sinh học của đàn ông
Tỷ lệ hút thuốc ở nam và nữ Việt Nam khác nhau hàng chục lần, nhưng không thể giải thích chênh lệch đó bằng sinh học.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Tobacco Control năm 2025 do Nguyễn Thị Ngọc Phương cùng các cộng sự thực hiện đã khảo sát trải nghiệm của nam giới hút hoặc từng hút thuốc tại Hà Nội. Nhóm nghiên cứu tổ chức chín cuộc thảo luận với 51 người ở hai địa bàn, một đô thị và một miền núi/nông thôn; tuổi trung bình khoảng 44, trong đó 35 người hút hằng ngày, bốn người hút không thường xuyên và 12 người đã bỏ. Đây là nghiên cứu định tính với mẫu nhỏ, không đại diện cho toàn bộ đàn ông Việt Nam.
Tuy nhiên, kết quả cho thấy một lớp vấn đề mà số liệu tỷ lệ hút thuốc đơn thuần khó phản ánh.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận việc chia sẻ thuốc lá, hút khi uống cà phê hoặc trà và tặng thuốc trong giao tiếp vẫn là những thực hành xã hội tồn tại. Các tác giả cho rằng hút thuốc tại Việt Nam còn gắn với quan hệ xã hội, trong bối cảnh việc nam giới hút thuốc thường được chấp nhận hơn nhiều so với nữ giới hút thuốc. Điều đó tạo ra một nghịch lý. Một chuẩn mực xã hội có thể góp phần khiến phụ nữ ít bắt đầu hút thuốc. Đây là kết quả tích cực về sức khỏe. Nhưng nếu mặt còn lại của chuẩn mực ấy là coi hút thuốc ở đàn ông như chuyện bình thường, thậm chí là một phần của giao tiếp, thì chính nam giới lại bị đẩy gần hơn tới một hành vi có nguy cơ cao.
![]() |
| Một người đàn ông hút thuốc lào tại khu phố cổ Hà Nội năm 2010. Việc sử dụng thuốc lá có thể gắn với nhiều thực hành giao tiếp và thói quen xã hội. Ảnh: istolethetv/Wikimedia Commons, CC BY 2.0. |
Một nghiên cứu khác công bố năm 2026 về nam giới sống chung với HIV tại Việt Nam cũng ghi nhận những chuẩn mực liên hệ thuốc lá với nam tính và giao tiếp xã hội có thể tạo áp lực khiến một số người khó bỏ thuốc. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu trên một nhóm bệnh nhân cụ thể nên không thể suy rộng kết quả cho toàn bộ nam giới Việt Nam.
Giá trị của bằng chứng này không nằm ở việc chứng minh “đàn ông hút thuốc vì nam tính”. Nó cho thấy hành vi cá nhân còn chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội.
Một người muốn bỏ thuốc nhưng ngày nào cũng được mời thuốc khi gặp bạn bè, đồng nghiệp hay đối tác sẽ phải vượt qua một loại rào cản khác với người sống trong môi trường mà hút thuốc không được coi là thông lệ giao tiếp.
Đây cũng là điểm gặp với câu chuyện về áp lực phải thể hiện vai trò nam giới mà Phụ Nữ Mới từng đặt ra. Khuôn mẫu giới không chỉ hạn chế phụ nữ; chúng cũng có thể khiến nam giới phải chứng minh mình bằng những hành vi không nhất thiết có lợi cho chính họ.
Biết tác hại chưa chắc đã bỏ được thuốc
Nếu vấn đề chỉ nằm ở thiếu thông tin, in cảnh báo sức khỏe và truyền thông nguy cơ có thể đủ để thay đổi hành vi.
Nghiên cứu năm 2025 tại Hà Nội cho thấy thực tế phức tạp hơn. Các cảnh báo sức khỏe đã khiến nhiều người tham gia suy nghĩ lại về việc hút thuốc. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đồng thời xác định hai khoảng trống lớn: việc thực thi quy định chưa nhất quán và nhiều rào cản hành vi vẫn tồn tại.
Điều này phù hợp với một nghiên cứu dọc trước đó trên 1.525 nam giới hút thuốc tại Hà Nội. Sau một năm, 14,8% người tham gia đã bỏ thuốc liên tục ít nhất 30 ngày; trong số những người vẫn hút, 56,6% cho biết có ý định bỏ. Khả năng bỏ thuốc liên quan đến số điếu hút mỗi ngày và việc đã có nhiều lần thử bỏ trước đó. Nói cách khác, có ý định chưa đồng nghĩa có thể bỏ.
Điểm này quan trọng khi truyền thông hướng tới nam giới. Nếu thông điệp chỉ xoay quanh việc trách móc người hút thuốc thiếu trách nhiệm, chính sách có thể bỏ qua sự phụ thuộc nicotine, môi trường xã hội, khả năng tiếp cận dịch vụ cai thuốc và những thói quen đã hình thành trong nhiều năm.
Góc nhìn giới cũng không có nghĩa phải tạo một chiến dịch với thông điệp “đàn ông đừng hút thuốc”.
Một cách tiếp cận thực chất hơn là nhận diện những tình huống mà việc hút thuốc được coi như một phần của hình ảnh nam giới: cuộc gặp bạn bè, bàn cà phê, giao tiếp nghề nghiệp, uống rượu bia hoặc những không gian mà từ chối điếu thuốc có thể bị hiểu thành không hòa đồng.
Khi chuẩn mực xã hội thay đổi, hành vi không hút hoặc từ chối thuốc lá cũng cần trở thành lựa chọn bình thường.
Điều đó khác hẳn việc thay một khuôn mẫu bằng khuôn mẫu khác. Mục tiêu không phải tạo hình ảnh “người đàn ông tốt phải thế này”, mà là mở rộng quyền lựa chọn để nam giới không cần sử dụng thuốc lá như một cách chứng minh sự hòa nhập, trưởng thành hay bản lĩnh.
Phụ nữ hút ít nhưng không đứng ngoài gánh nặng thuốc lá
Khoảng cách giới còn có một mặt khác. Tỷ lệ phụ nữ Việt Nam trực tiếp hút thuốc rất thấp nhưng điều đó không có nghĩa tác hại của thuốc lá gần như chỉ nằm ở nam giới.
STEPS 2021 ghi nhận 37,2% phụ nữ được khảo sát đã tiếp xúc với khói thuốc thụ động tại nhà trong 30 ngày trước khảo sát. Tỷ lệ tương ứng ở nam giới là 37,4%. So với năm 2015, mức tiếp xúc tại nhà đã giảm đáng kể ở cả hai giới, nhưng hơn một phần ba vẫn là tỷ lệ đáng lưu ý.
WHO năm 2025 cho biết các bệnh liên quan đến thuốc lá gây hơn 100.000 ca tử vong mỗi năm tại Việt Nam. Tổ chức này đồng thời nhấn mạnh hút thuốc không chỉ gây hại cho người hút mà cả những người tiếp xúc với khói thuốc, bao gồm phụ nữ và trẻ em.
![]() |
| Bỏ thuốc và duy trì không gian không khói thuốc có lợi cho chính nam giới và những người sống cùng họ. Ảnh minh họa cha và con tại Hà Nội: Anh Lê/Pexels. |
Như vậy, một hành vi tập trung rất mạnh ở nam giới có thể tạo hậu quả vượt khỏi chính nhóm người hút. Đây là nơi phân tích giới phải tránh hai sai lầm ngược nhau.
Sai lầm thứ nhất là chỉ nói về đàn ông như người gây ra khói thuốc và phụ nữ như nạn nhân. Không phải mọi đàn ông đều hút thuốc, và phụ nữ cũng có người sử dụng thuốc lá.
Sai lầm thứ hai là chỉ nhìn vào tỷ lệ hút trực tiếp rồi kết luận phụ nữ gần như không chịu tác động.
Phụ Nữ Mới đã có bài riêng về khói thuốc thụ động đối với phụ nữ và trẻ em. Bài toán mới cần nối thêm một mắt xích: muốn giảm phơi nhiễm của người không hút, phải xử lý chính khoảng cách hút thuốc rất lớn ở nam giới.
Điều đó biến câu chuyện bỏ thuốc của nam giới thành lợi ích chung của gia đình và cộng đồng chứ không chỉ là quyết định sức khỏe cá nhân.
WHO khi tổng kết tiến bộ y tế của Việt Nam năm 2025 đã sử dụng chính hình ảnh những người cha không hút thuốc để nhấn mạnh việc bảo vệ sức khỏe trẻ em. Tổ chức này cũng lưu ý hơn 40% nam giới Việt Nam hút thuốc và khoảng 100.000 ca tử vong mỗi năm có liên quan đến thuốc lá.
Thông điệp ở đây có thể được nhìn theo hướng tích cực hơn: làm cha, làm chồng hay làm một người đàn ông có trách nhiệm không cần gắn với sự hy sinh im lặng hoặc chịu đựng. Bỏ thuốc và tạo không gian không khói thuốc cũng có thể là một cách chăm sóc bản thân và những người sống cùng mình.
Chính sách thuốc lá cũng cần đọc dữ liệu theo giới
Việt Nam đã có nhiều công cụ kiểm soát thuốc lá từ môi trường không khói thuốc, cảnh báo sức khỏe, hạn chế quảng cáo đến thuế.
Năm 2025, Quốc hội thông qua cải cách thuế thuốc lá. Mô hình TaXSim của WHO dự báo những thay đổi thuế này có thể giúp 2,1 triệu người bỏ hoặc không bắt đầu hút thuốc vào năm 2031 và ngăn khoảng 700.000 trường hợp tử vong sớm trong những thập kỷ tới. Đây là kết quả mô hình hóa, không phải số người đã thực tế bỏ thuốc.
Từ góc nhìn giới, tác động của chính sách cần được theo dõi sâu hơn một tỷ lệ chung toàn dân.
Nếu tỷ lệ hút thuốc nam giới giảm nhưng rất chậm ở một số nhóm tuổi, nghề nghiệp hoặc trình độ học vấn, các biện pháp chung có thể chưa đủ. Một nghiên cứu sử dụng các khảo sát cấp tỉnh giai đoạn 2020–2024 cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới vẫn cao hơn rất nhiều so với nữ và bất bình đẳng theo trình độ học vấn vẫn tồn tại. Kết quả này cần được đọc đúng phạm vi của chuỗi khảo sát cấp tỉnh, không thay thế cho một khảo sát đại diện toàn quốc.
Do đó, dữ liệu phòng, chống tác hại thuốc lá nên tiếp tục tách ít nhất theo giới, tuổi, khu vực cư trú, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế.
Ở khâu can thiệp, cần biết ai muốn bỏ thuốc nhưng chưa tiếp cận được hỗ trợ, ai thường xuyên hút trong nhà, nhóm nào chịu ảnh hưởng lớn nhất của giá thuốc và những không gian xã hội nào tiếp tục bình thường hóa việc mời thuốc.
Các chương trình cai thuốc cũng cần được đánh giá theo giới. Nếu phần lớn người hút là nam giới nhưng dịch vụ ít tiếp cận được họ, hệ thống phải xem lại thời gian cung cấp dịch vụ, cách truyền thông, nơi tư vấn và cả cách nói về việc cai thuốc.
Ngược lại, không được để tỷ lệ hút thuốc thấp ở phụ nữ khiến nhu cầu phòng ngừa với nữ giới bị bỏ qua. Một chuẩn mực xã hội ngăn phụ nữ hút thuốc hôm nay không phải là biện pháp y tế bền vững cho tương lai. Phòng ngừa phải dựa trên hiểu biết về nguy cơ và môi trường hỗ trợ, không dựa vào việc xã hội kỳ thị phụ nữ hút thuốc. Đó cũng là cách hiểu rộng hơn về bình đẳng giới không phải ưu ái một giới.
Một chính sách đáp ứng giới không nhất thiết phải tạo ra một chương trình riêng cho đàn ông và một chương trình riêng cho phụ nữ. Trước hết, nó phải nhận ra rủi ro đang phân bố như thế nào và những chuẩn mực xã hội nào đứng phía sau sự khác biệt đó.
Với thuốc lá ở Việt Nam, dữ liệu cho thấy một khoảng cách rất lớn: nam giới hút thuốc nhiều hơn phụ nữ hàng chục lần.
Thay vì coi đó là điều hiển nhiên vì “đàn ông vẫn thế”, khoảng cách này cần được xem như một vấn đề có thể thay đổi.
Nếu việc không hút thuốc trở nên bình thường hơn trong những cuộc gặp bạn bè, nơi làm việc và gia đình; nếu nam giới muốn bỏ thuốc dễ tiếp cận hỗ trợ hơn; nếu từ chối một điếu thuốc không còn bị coi là thiếu hòa đồng, chính những chuẩn mực từng góp phần duy trì khoảng cách giới cũng có thể dịch chuyển.
Ở điểm này, bình đẳng giới không chỉ là bảo vệ phụ nữ khỏi khói thuốc. Nó còn là giúp nam giới thoát khỏi một hành vi nguy cơ đã được xã hội chấp nhận quá lâu như một phần bình thường của đời sống nam giới.





















“Trụ cột mà, sao dám mệt!”, thông điệp độc hại đang được bình thường hóa
Khói thuốc thụ động: "Bóng ma" đe dọa sức khỏe phụ nữ và trẻ em
Bình đẳng giới không phải ưu ái, mà là trao cơ hội ngang bằng
Đừng hút thuốc trong nhà: Khói thuốc thụ động có thể làm “biến đổi” DNA của con bạn
Cùng chuyên mục
41% nam giới hút thuốc, khuôn mẫu giới cũng cần được tính đến
Nam giới chiếm gần 78% số người chết vì tai nạn giao thông
Phụ nữ chiếm 75% lao động dệt may, chỉ 30% vị trí quản lý
Phụ nữ đi lại khác nam giới vì việc chăm sóc và nỗi lo an toàn
Nắng nóng nơi làm việc không tác động giống nhau đến nam và nữ
Có những việc không ai giao nhưng phụ nữ vẫn luôn nhớ