![]() |
| Một phụ nữ phơi gạch dưới nắng tại Vĩnh Long. Tải nhiệt tại nơi làm việc phụ thuộc đồng thời môi trường và cường độ công việc. Ảnh: Tuong Lam Photos/Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. |
Cùng làm việc trong một ngày nóng nhưng hai người chưa chắc chịu cùng một mức stress nhiệt. Người mang vác nặng sinh nhiều nhiệt từ hoạt động cơ thể hơn người làm việc nhẹ. Quần áo bảo hộ có thể làm cơ thể khó thoát nhiệt. Nắng trực tiếp, độ ẩm, luồng gió, nguồn nhiệt tại nơi làm việc và thời gian nghỉ đều làm thay đổi mức rủi ro.
WHO định nghĩa stress nhiệt tại nơi làm việc là tình trạng cơ thể người lao động tích tụ nhiệt do tác động kết hợp của nhiệt sinh ra từ chuyển hóa, môi trường và trang phục. Hơn 2,4 tỷ người lao động trên thế giới được ước tính tiếp xúc với nhiệt quá mức, liên quan tới hơn 22,85 triệu ca chấn thương nghề nghiệp mỗi năm. Đây là số liệu toàn cầu, không phải ước tính riêng cho Việt Nam.
Nhìn vấn đề này qua giới vì thế không nên bắt đầu bằng câu hỏi “phụ nữ hay nam giới chịu nóng kém hơn”. Câu hỏi hữu ích hơn là ai đang làm công việc nào, cường độ ra sao, phải mặc gì, có quyền nghỉ hay tiếp cận nước uống và chỗ mát như thế nào, đồng thời có những đặc điểm sinh lý nào làm thay đổi khả năng chịu nhiệt.
Không có một nhóm rủi ro duy nhất
Nhiệt độ không khí trên bản tin thời tiết chỉ phản ánh một phần điều người lao động thực sự chịu đựng. WHO sử dụng chỉ số WBGT – nhiệt độ cầu ướt – khi nói về stress nhiệt nghề nghiệp. Chỉ số này tính đến nhiều yếu tố như nhiệt độ không khí, độ ẩm, bức xạ nhiệt và chuyển động của không khí. WHO cho biết năng suất lao động trung bình có thể giảm khoảng 2–3% cho mỗi 1°C WBGT tăng thêm trên mức 20°C trong các nghiên cứu được tổng hợp.
Một người đứng dưới nắng, vận động mạnh và mặc trang phục bảo hộ kín vì thế có thể chịu tải nhiệt lớn hơn đáng kể so với người làm việc nhẹ ở cùng nhiệt độ không khí. Rủi ro cũng không chỉ tồn tại ngoài trời. WHO lưu ý công nhân trong nhà máy có nguồn nhiệt, môi trường nóng ẩm hoặc không có thiết bị làm mát cũng có thể bị stress nhiệt. Công việc đòi hỏi vận động mạnh hay sử dụng đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân càng làm cơ thể khó thải nhiệt.
Điểm này bổ sung một lớp khác cho câu chuyện đồ bảo hộ vừa vặn với người lao động. Thiết bị bảo hộ phải đồng thời bảo vệ trước nguy cơ nghề nghiệp và được tính đến khi đánh giá tải nhiệt mà người sử dụng phải chịu.
Nếu chỉ tách thống kê thành nam và nữ rồi thấy một bên có nhiều ca sự cố hơn, vẫn chưa thể lập tức quy nguyên nhân cho giới tính sinh học. Khác biệt có thể đến từ việc hai nhóm tập trung ở những công việc khác nhau, thời gian tiếp xúc khác nhau hoặc khả năng kiểm soát điều kiện làm việc khác nhau.
Góc nhìn giới có giá trị khi nó giúp bóc tách những lớp đó, thay vì tạo thêm một định kiến mới rằng một giới đương nhiên “chịu nóng tốt hơn” giới kia.
Khác biệt sinh học chỉ là một phần
Một số yếu tố sinh lý có thể làm thay đổi nguy cơ do nhiệt, nhưng chúng không đồng nhất với giới và cũng không xuất hiện ở tất cả mọi người.
WHO xếp người lớn tuổi, người có bệnh mạn tính, người có thể lực thấp hơn, người làm việc ngoài trời hoặc làm công việc thể lực rất nặng vào những nhóm cần được chú ý. Thai kỳ cũng là một yếu tố làm tăng tính dễ tổn thương trước nhiệt.
ILO trong báo cáo về nhiệt tại nơi làm việc dẫn một nghiên cứu với 800 phụ nữ mang thai tại Ấn Độ. Trong nhóm nghiên cứu này, 47% người tham gia được xác định có tiếp xúc với nhiệt quá mức tại nơi làm việc; điều kiện stress nhiệt cũng gắn với nguy cơ cao hơn đối với một số kết quả thai kỳ bất lợi. Đây là bằng chứng từ một nghiên cứu tại Ấn Độ, không thể dùng để suy ra tỷ lệ tương ứng ở lao động nữ Việt Nam.
![]() |
| Một phụ nữ làm việc trên đồng ruộng tại Việt Nam. Lao động ngoài trời là một trong những nhóm cần được đánh giá nguy cơ nhiệt theo điều kiện công việc thực tế. Ảnh: khangachang/Wikimedia Commons, CC BY 3.0. |
Thai kỳ vì thế là một ví dụ cho thấy chính sách an toàn đôi khi phải tính tới khác biệt sinh học cụ thể. Nhưng lấy thai kỳ để đại diện cho toàn bộ phụ nữ cũng là một cách nhìn sai.
Ở chiều ngược lại, giới có thể tác động đến mức tiếp xúc thông qua cách công việc được phân chia trong xã hội. Trang thông tin về nhiệt và sức khỏe do WHO Việt Nam cập nhật ngày 31/7/2026 nêu một ví dụ: giới có thể ảnh hưởng tới tiếp xúc nhiệt ở những nơi phụ nữ chủ yếu đảm nhiệm việc nấu ăn trong nhà khi thời tiết nóng. WHO đồng thời chỉ rõ lao động ngoài trời và lao động thủ công là nhóm dễ tiếp xúc với nhiệt quá mức do đặc điểm công việc.
Hai lớp này không nên bị nhập làm một. Thai kỳ là yếu tố sinh học. Việc ai nấu ăn, ai làm nghề ngoài trời, ai có thể nghỉ khi nóng hay ai kiểm soát thời gian làm việc lại liên quan tới tổ chức lao động và vai trò giới.
Chính việc tách hai lớp mới giúp tránh một kết luận quá đơn giản rằng phụ nữ luôn dễ tổn thương hơn nam giới hoặc ngược lại.
Nhiệt kế thông thường chưa đủ để đánh giá nơi làm việc
Việt Nam hiện đã có quy chuẩn kỹ thuật về vi khí hậu tại nơi làm việc. Thông tư 26/2016/TT-BYT ban hành QCVN 26:2016/BYT về giá trị cho phép của vi khí hậu tại nơi làm việc. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hiện ghi nhận thông tư này còn hiệu lực, có hiệu lực từ ngày 1/12/2016.
Một điểm quan trọng là quy chuẩn không chỉ sử dụng nhiệt độ không khí. QCVN phân loại công việc thành lao động nhẹ, trung bình và nặng, đồng thời sử dụng WBGT để đánh giá mức căng thẳng nhiệt.
Với trường hợp tiếp xúc liên tục với nguồn nhiệt, giới hạn WBGT được nêu là 30°C với lao động nhẹ, 26,7°C với lao động trung bình và 25°C với lao động nặng. Khi thời gian tiếp xúc giảm, giá trị giới hạn thay đổi tương ứng.
Điều này rất dễ bị hiểu nhầm nếu chỉ nhìn vào con số. WBGT 25°C không có nghĩa nhiệt độ dự báo ngoài trời là 25°C. Đây là chỉ số tổng hợp nhằm phản ánh tải nhiệt mà cơ thể chịu trong điều kiện làm việc.
Bởi vậy, một chính sách chống nóng tại nơi làm việc không nên chỉ quy định rằng “trên bao nhiêu độ thì cho nghỉ”. Cường độ lao động, nắng trực tiếp, độ ẩm, nguồn bức xạ nhiệt, thông gió, trang phục bảo hộ và thời gian tiếp xúc đều cần được tính đến.
WHO/WMO năm 2025 khuyến nghị xây dựng các chương trình hành động về nhiệt nghề nghiệp phù hợp với thời tiết địa phương, công việc cụ thể và tính dễ tổn thương của người lao động. Các biện pháp cần kết hợp đánh giá nguy cơ, điều chỉnh chu kỳ làm việc–nghỉ, cung cấp nước, chỗ mát hoặc phương tiện làm mát, thích nghi dần với môi trường nóng, đào tạo nhận diện dấu hiệu nguy hiểm và quy trình xử lý khi có sự cố.
Câu chuyện này khác với nhiệt độ văn phòng và sự khác biệt giữa người sử dụng, nhưng cùng chỉ ra một nguyên tắc: môi trường làm việc không nên được thiết kế từ giả định rằng mọi cơ thể phản ứng giống nhau.
![]() |
| Hai ngư dân làm việc với lưới trên bãi biển Phan Thiết vào sáng sớm. Nghề cá là một trong các nhóm lao động thủ công được WHO/WMO lưu ý khi đánh giá nguy cơ nhiệt. Ảnh: Lucas Jans/Wikimedia Commons, CC BY-SA 2.0. |
Dữ liệu giới phải đi cùng dữ liệu về công việc
Việt Nam có một lý do khác để không giới hạn bài toán chống nóng trong những nhà máy lớn hoặc nhóm lao động có quan hệ việc làm ổn định. Cục Thống kê cho biết năm 2025, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của Việt Nam là 63,1%. Tỷ lệ này ở nam giới là 66,4% và nữ giới 59,3%. Cũng trong năm này, 13,5 triệu người làm việc trong nông, lâm nghiệp và thủy sản; 17,5 triệu người trong công nghiệp và xây dựng. Những con số này không phải số liệu về người tiếp xúc nhiệt, vì vậy không thể cộng hoặc chuyển chúng thành quy mô lao động chịu stress nhiệt.
Giá trị của dữ liệu nằm ở một vấn đề khác: nếu muốn hiểu rủi ro nhiệt của người lao động Việt Nam, việc thu thập thông tin không thể chỉ dừng ở vài cơ sở sản xuất chính thức. Một bộ dữ liệu có ý nghĩa cần biết người gặp sự cố là nam hay nữ, bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, công việc nhẹ hay nặng, trong nhà hay ngoài trời, thời gian tiếp xúc bao lâu, WBGT tại vị trí làm việc thế nào, có sử dụng trang phục bảo hộ hay không và chế độ nghỉ đã được áp dụng ra sao. Những yếu tố sức khỏe cá nhân chỉ nên được thu thập khi thực sự cần thiết và phải tuân thủ yêu cầu bảo mật.
Nếu chỉ có cột “nam – nữ”, một khác biệt do nghề nghiệp rất dễ bị giải thích thành khác biệt sinh học. Nhưng nếu hoàn toàn không tách dữ liệu theo giới, một nguy cơ thực sự tập trung ở phụ nữ hoặc nam giới lại có thể chìm trong số trung bình.
Cách tiếp cận tương tự đã xuất hiện trong câu chuyện phụ nữ bước vào việc làm xanh: điều quan trọng không chỉ là đếm bao nhiêu nữ và nam đang có mặt, mà phải nhìn cả đường dịch chuyển, điều kiện làm việc và những rào cản phía sau con số.
Với stress nhiệt, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ việc đo điều kiện thực tế thay vì chỉ nhìn nhiệt kế treo tường; bố trí nghỉ, nước uống và vùng mát theo tải nhiệt và cường độ công việc; đồng thời cho người lao động tham gia phản ánh những vị trí, ca làm hay trang phục khiến họ chịu nhiệt nhiều nhất.
Cơ quan quản lý và hệ thống y tế lao động lại cần một lớp dữ liệu sâu hơn để biết nhóm nào đang gặp sự cố, ở ngành nghề nào và trong điều kiện nào. Chỉ khi đó mới có căn cứ để xác định cần điều chỉnh hướng dẫn, tăng giám sát hay ưu tiên can thiệp ở đâu.
Bình đẳng giới trong chống nóng tại nơi làm việc không phải mặc định dành một chế độ riêng cho phụ nữ. Nó là việc không lấy một cơ thể, một công việc hay một trải nghiệm làm chuẩn cho tất cả. Người lao động nam làm việc nặng ngoài trời cần được bảo vệ đúng nguy cơ của họ; phụ nữ mang thai cần điều chỉnh phù hợp khi có nguy cơ; người làm trong nhà máy nóng, người cao tuổi hay người phải mặc trang phục bảo hộ kín cũng cần được đánh giá theo điều kiện thực tế.
Càng đo đúng ai đang chịu nhiệt, chịu ở đâu và vì sao, chính sách an toàn càng ít phải dựa vào định kiến giới và càng có khả năng bảo vệ cả phụ nữ lẫn nam giới.





















Văn phòng quá lạnh có thể khiến phụ nữ bất tiện hơn mỗi ngày
Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn
Cảnh báo thiên tai cần tính đến cách phụ nữ nhận thông tin
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Nắng nóng nơi làm việc không tác động giống nhau đến nam và nữ
Có những việc không ai giao nhưng phụ nữ vẫn luôn nhớ
Thể thao với phụ nữ không chỉ là chuyện giảm cân, giữ dáng
Tránh thai cần trở thành trách nhiệm chung của cả hai giới
Những người cha đang học cách chia sẻ việc nhà và chăm con
Khoảng cách đọc hiểu của nam sinh cũng là bài toán giới