![]() |
| TS. Lê Thụy Bình Phương báo cáo kết quả nhiệm vụ về nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp tại Hội đồng nghiệm thu ngày 30/6/2026. Ảnh: Sở KH&CN TP.HCM. |
Trong khẩu phần của một con bò, rơm có thể chỉ được nhìn như nguồn thức ăn thô quen thuộc. Với TS. Lê Thụy Bình Phương, giảng viên Bộ môn Khoa học Sinh học Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, những nguyên liệu như rơm, lá cây hay phụ phẩm chế biến lại gắn với một câu hỏi khác: khi chúng đi vào dạ cỏ, quá trình lên men thay đổi thế nào và lượng khí mê-tan hình thành có thể giảm hay không?
Đây không phải hướng nghiên cứu mới xuất hiện cùng câu chuyện giảm phát thải những năm gần đây. Hồ sơ chuyên môn của Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM cho thấy nữ giảng viên đã theo đuổi hoạt động biến dưỡng của vi sinh vật dạ cỏ, các biện pháp cải thiện hệ vi sinh để giảm mê-tan và việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho động vật nhai lại trong nhiều năm. Những công trình về giảm mê-tan trong hệ lên men in vitro của bà đã xuất hiện từ năm 2011–2012 và tiếp tục được phát triển qua nhiều loại nguyên liệu khác nhau.
Mạch nghiên cứu ấy có thêm một dấu mốc mới vào cuối tháng 6/2026. TS. Lê Thụy Bình Phương là chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ của TP.HCM về xây dựng một số quy trình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, carbon thấp, giảm phát thải khí nhà kính. Trong hai hướng được nghiệm thu, một hướng tập trung vào bò thịt với rơm ủ vi sinh và các phụ phẩm làm nguyên liệu khẩu phần.
Từ những gì xảy ra trong dạ cỏ
Bò và các động vật nhai lại có khả năng sử dụng những nguyên liệu nhiều xơ nhờ hệ vi sinh vật trong dạ cỏ. Vi sinh vật phân giải thức ăn và tạo ra các sản phẩm mà cơ thể vật nuôi tiếp tục sử dụng, nhưng quá trình lên men đồng thời sinh khí mê-tan. Vì vậy, thay đổi thành phần khẩu phần không chỉ là bài toán cung cấp đủ năng lượng hay protein; nó còn có thể làm thay đổi hướng lên men và lượng mê-tan được tạo thành.
Năm 2025, TS. Lê Thụy Bình Phương đứng đầu nhóm tác giả một nghiên cứu sử dụng rơm đã xử lý amoni làm nền, sau đó bổ sung lá Psophocarpus scandens, gạo lên men bằng nấm men hoặc phối hợp hai thành phần. Trong hệ lên men in vitro, việc bổ sung lá Psophocarpus scandens gắn với mức giảm mê-tan 8,7% so với khẩu phần nền khi tính theo cách mà nhóm nghiên cứu xác định; đóng góp riêng của gạo lên men ở mức 4% chưa cho thấy hiệu quả rõ. Các nghiệm thức có bổ sung lá cũng làm thay đổi tổng lượng axit béo bay hơi và tỷ lệ giữa một số sản phẩm lên men.
Con số 8,7% cần được giữ đúng trong phạm vi của nó. Thí nghiệm được thực hiện với dịch dạ cỏ trong hệ ủ, không phải đo trực tiếp lượng khí phát ra từ một đàn bò đang ăn ngoài trang trại. Những thử nghiệm kiểu này hữu ích để xem một nguyên liệu tác động ra sao đến quá trình lên men và sàng lọc những công thức đáng nghiên cứu tiếp, nhưng chưa đủ để kết luận đàn vật nuôi ngoài thực tế sẽ giảm mê-tan đúng với tỷ lệ quan sát được trong phòng thí nghiệm.
![]() |
| TS. Lê Thụy Bình Phương trao đổi về việc tận dụng phụ phẩm làm nguồn thức ăn trong mô hình nuôi ấu trùng ruồi lính đen. Ảnh trích nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường. |
Việc liên tục thử các thành phần khác nhau trong khẩu phần cũng phản ánh một đặc điểm của hướng nghiên cứu này: không có một nguyên liệu duy nhất được mặc định là lời giải. Hồ sơ công bố của TS. Lê Thụy Bình Phương trải từ sulphate, nitrate, lá sắn, bã bia, than sinh học đến rơm xử lý và các nguồn thức ăn lên men. Mỗi tổ hợp lại đặt ra câu hỏi về khả năng tiêu hóa, sản phẩm lên men, mê-tan và cuối cùng là năng suất vật nuôi.
Khi khẩu phần bước ra khỏi bình ủ
Khoảng cách giữa một kết quả trong hệ lên men và một khẩu phần sử dụng được ngoài trại là phần khó hơn. Năm 2024, TS. Lê Thụy Bình Phương đứng đầu nhóm tác giả nghiên cứu trên 40 bò lai Sindhi khoảng chín tháng tuổi trong 90 ngày. Các nhóm bò được ăn rơm thường hoặc rơm lên men với những mức sinh khối vi sinh khác nhau, trong khi phần thức ăn nền sử dụng bã đậu nành và phụ phẩm malt.
Sau lên men, rơm có xu hướng tăng protein thô và giảm các thành phần xơ ADF, NDF. Ba nhóm sử dụng rơm lên men có mức tăng trọng trung bình ngày tốt hơn nhóm sử dụng rơm không lên men; hệ số chuyển hóa thức ăn cũng được cải thiện. Tuy nhiên, khi so sánh ba mức vi sinh dùng để lên men rơm với nhau, nghiên cứu không tìm thấy khác biệt có ý nghĩa ở tăng trọng trung bình ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn. Kết quả cho thấy xử lý một phụ phẩm quen thuộc có thể cải thiện cách nó được vật nuôi sử dụng, nhưng cũng đặt giới hạn cho việc khẳng định một công thức cụ thể vượt trội tuyệt đối.
Dữ liệu năm 2026 đưa hướng nghiên cứu này thêm một bước về phía mô hình sản xuất. Trong nhiệm vụ do TS. Lê Thụy Bình Phương chủ nhiệm, nhóm so sánh rơm thô, rơm ủ kiềm và rơm ủ vi sinh cho bò thịt. Khẩu phần được lựa chọn sử dụng 95,8% nguyên liệu phụ phẩm, gồm 38% rơm ủ vi sinh, 38% bã nành và 19,8% bụi malt. So với mô hình bên ngoài được dùng làm đối chứng trong nhiệm vụ, báo cáo nghiệm thu ghi nhận hiệu quả kinh tế tăng 14,31% và lượng phát thải CO₂ tương đương giảm khoảng 54%. Quy trình đã được chuyển giao cho ba hộ chăn nuôi tại Củ Chi.
Hai con số 14,31% và 54% không nên được tách khỏi thiết kế của mô hình. Mức giảm khoảng 54% là phát thải CO₂ tương đương trong phép so sánh của nhiệm vụ, không đồng nghĩa bò đã giảm riêng khí mê-tan đường ruột 54%. Nó cũng khác với mức giảm mê-tan 8,7% trong nghiên cứu in vitro năm 2025. Hai kết quả được tạo ra ở hai cấp độ nghiên cứu và cách đo khác nhau.
Điểm nối giữa chúng nằm ở khẩu phần. Rơm có sẵn sau mỗi vụ thu hoạch nhưng ở dạng thô có hàm lượng protein thấp và nhiều xơ, khiến khả năng sử dụng làm thức ăn bị giới hạn. Các thí nghiệm của nhóm tìm cách thay đổi đặc tính ấy bằng xử lý hóa học hoặc vi sinh, sau đó phối hợp rơm với bã nành, phụ phẩm malt và những nguồn dinh dưỡng khác. Từ đó, bài toán giảm phát thải được đặt song song với yêu cầu rất thực tế của người chăn nuôi: con vật vẫn phải ăn được, tăng trưởng được và chi phí khẩu phần phải có khả năng chấp nhận.
Mạch nghiên cứu này cũng gặp phụ phẩm nông nghiệp ở một điểm khác với công trình của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền mà Phụ Nữ Mới vừa phản ánh. Nếu nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền tập trung vào cách tổ chức dòng phụ phẩm giữa nông hộ, đơn vị thu gom, xử lý và thị trường ở cấp cộng đồng, thì phần việc của TS. Lê Thụy Bình Phương đi sâu hơn vào câu hỏi kỹ thuật: phụ phẩm nào có thể thành thức ăn, phải xử lý và phối trộn thế nào, vật nuôi phản ứng ra sao và phát thải thay đổi ở mức nào.
![]() |
| Phiên trao đổi tại hội thảo về chăn nuôi tuần hoàn và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp tại TP.HCM, tháng 4/2026. Ảnh: Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM. |
Nhiệm vụ năm 2026 còn có một nhánh sử dụng phụ phẩm hữu cơ để nuôi ấu trùng ruồi lính đen. Nhóm công bố tỷ lệ phụ phẩm trong khẩu phần đạt 60–70%; so với phương án ủ compost được dùng làm đối chứng, mô hình giảm 89,91% phát thải CO₂ tương đương. Đây là phần mở rộng của câu chuyện tận dụng dòng vật chất trong nông nghiệp, nhưng không phải cơ sở để gộp con số 89,91% vào hiệu quả của khẩu phần bò.
Đặt các kết quả cạnh nhau cho thấy hướng nghiên cứu của TS. Lê Thụy Bình Phương không đi theo một công thức “thêm một nguyên liệu để giảm phát thải”. Từ bình ủ mô phỏng dạ cỏ đến thử nghiệm trên bò và mô hình tại hộ chăn nuôi, mỗi bước lại thêm những biến số mới: khả năng tiêu hóa, tăng trọng, nguồn nguyên liệu, giá thành và cách đo phát thải. Câu hỏi khoa học vì thế không chỉ là làm sao tạo ít mê-tan hơn, mà là làm sao thiết kế khẩu phần vừa phù hợp với sinh lý vật nuôi, vừa tận dụng được những nguyên liệu đang có sẵn quanh hệ thống sản xuất.
Dữ liệu hiện tại chưa cho phép nói rằng đã có một khẩu phần tối ưu có thể áp dụng cho mọi trang trại. Nhưng chuỗi nghiên cứu kéo dài nhiều năm đã đưa một câu hỏi tưởng như nằm sâu trong dạ cỏ ra gần hơn với thực tế sản xuất: nếu hiểu rõ hơn cách thức ăn được chuyển hóa, người chăn nuôi có thể đồng thời tính tới dinh dưỡng, nguồn phụ phẩm và lượng phát thải thay vì xem đó là ba bài toán tách rời.





















Đưa phụ phẩm nông nghiệp vào vòng tuần hoàn của cộng đồng
Từ công nghệ nano đến giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi
Xạ khuẩn bản địa và bước tiến mới trong nuôi cá thâm canh
Ứng dụng công nghệ tiên tiến chọn giống lúa phát thải khí mê tan thấp (Orysa sativa. L) phù hợp với biến đổi khí hậu
Cùng chuyên mục
Một hướng giảm phát thải bắt đầu từ khẩu phần vật nuôi
Những phép thử khó dành cho AI tiếng Việt
Đo sức bền tâm lý của công nhân trước áp lực công việc
ThS. Đặng Thị Thúy Yên chọn tạo hai dòng gà từ nguồn gen nội và nhập
Những túi sinh học siêu nhỏ có thể mang thuốc tới tế bào ung thư
Từ nghiên cứu dioxin đến hành trình đưa khoa học ra cộng đồng