![]() |
| Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng; khoản hỗ trợ chăm sóc theo hệ số 1,5 và 2,0 tương ứng 810.000 đồng và 1,08 triệu đồng. |
Một khoản trợ cấp tăng thêm 60.000 đồng mỗi tháng không phải thay đổi lớn nếu chỉ nhìn vào con số. Nhưng với người khuyết tật nặng đang mang thai, điều đáng quan tâm hơn nằm ở cách chính sách tách riêng trợ cấp xã hội hằng tháng và hỗ trợ kinh phí chăm sóc, đồng thời thừa nhận thai kỳ và việc nuôi con nhỏ có thể làm tăng nhu cầu hỗ trợ.
Nghị định 335/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 21/8/2026, quy định chính sách trợ giúp xã hội và có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng từ 500.000 lên 540.000 đồng/tháng. Với những người đang hưởng chính sách cũ, mức tương ứng mới được tính từ ngày 1/7/2026 và UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát để quyết định chi trả.
Đây là chi tiết phải phân biệt rõ: quyền được hỗ trợ chăm sóc đối với người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ không phải đến Nghị định 335 mới xuất hiện. Hệ số hỗ trợ 1,5 và 2,0 đã tồn tại trong Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Thay đổi trực tiếp lần này là mức chuẩn tăng 8%, khiến số tiền thực nhận tính theo các hệ số cũng tăng tương ứng.
810.000 đồng là khoản hỗ trợ chăm sóc, không phải toàn bộ trợ cấp
Theo Nghị định 335, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hằng tháng bằng mức chuẩn 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng.
Người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi thuộc mức hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng/tháng. Người khuyết tật đặc biệt nặng cũng thuộc mức hỗ trợ chăm sóc hệ số 1,5 theo quy định này.
Nếu người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng vừa mang thai vừa nuôi một con dưới 36 tháng tuổi, hoặc đang nuôi từ hai con dưới 36 tháng tuổi trở lên, hệ số tăng lên 2,0, tương ứng 1,08 triệu đồng/tháng. Nếu cùng lúc thuộc nhiều mức, người hưởng chỉ nhận hệ số cao nhất.
Điểm dễ nhầm là đây không phải toàn bộ số tiền trợ giúp xã hội mà người đủ điều kiện có thể nhận. Nghị định quy định người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nhưng mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng vẫn được hưởng thêm kinh phí hỗ trợ chăm sóc. Vì vậy, khi truyền thông chính sách, cần gọi đúng tên từng khoản thay vì gom chung thành “trợ cấp 810.000 đồng”.
![]() |
| Phụ nữ làm việc trong một dự án dành cho người khuyết tật tại Việt Nam. Ảnh chỉ minh họa cho khả năng lao động và tham gia xã hội, không xác định nhân vật thuộc diện hưởng chính sách trong bài. Ảnh: Peter van der Sluijs/CC BY-SA 3.0. |
Mức tiền nói trên là mức tính theo chuẩn quốc gia. Nếu điều kiện kinh tế - xã hội cho phép, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn hoặc mức trợ giúp cao hơn.
Phụ Nữ Mới trước đó đã phân tích chính sách đối với cha mẹ đơn thân nghèo cũng trong Nghị định 335. Với nhóm người khuyết tật mang thai hoặc nuôi con nhỏ, điểm khác nằm ở việc chính sách nhận diện đồng thời nhu cầu trợ giúp do mức độ khuyết tật và nhu cầu chăm sóc phát sinh trong giai đoạn sinh, nuôi con.
Góc giới nằm ở giao điểm giữa khuyết tật và thai kỳ
Điều tra người khuyết tật năm 2023 cho thấy 6,11% dân số Việt Nam từ 2 tuổi trở lên là người khuyết tật. Tỷ lệ ở nữ giới là 6,92%, cao hơn mức 5,26% ở nam giới. Số liệu này không có nghĩa phụ nữ mặc nhiên cần trợ giúp nhiều hơn nam giới trong mọi trường hợp, bởi khuyết tật còn thay đổi mạnh theo tuổi và nhiều đặc điểm khác. Nhưng nó cho thấy khi thiết kế an sinh, giới và khuyết tật không nên được xem như hai nhóm dữ liệu tách rời.
Đừng nhầm 810.000 đồng là toàn bộ mức hưởng
Mức chuẩn trợ giúp xã hội: 540.000 đồng/tháng.
Người khuyết tật nặng được trợ cấp xã hội hằng tháng với hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng theo chuẩn quốc gia.
Nếu người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi, khoản hỗ trợ kinh phí chăm sóc được tính thêm với hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng.
Người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng vừa mang thai vừa nuôi một con dưới 36 tháng, hoặc nuôi từ hai con dưới 36 tháng trở lên, khoản hỗ trợ chăm sóc được tính hệ số 2,0, tương ứng 1,08 triệu đồng.
Địa phương có thể quy định mức cao hơn nếu điều kiện kinh tế - xã hội cho phép.
Thai kỳ làm giao điểm đó rõ hơn. Người mang thai có thể đồng thời phải đối mặt với khó khăn về vận động, giao tiếp, tiếp cận thông tin, phương tiện đi lại hoặc sử dụng cơ sở y tế. Một dự án của UNFPA tại hai xã Đông Hiệp và Cờ Đỏ, Cần Thơ cho thấy người khuyết tật tại địa bàn còn gặp các rào cản đáng kể trong tiếp cận thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản. Dự án phải kết hợp truyền thông, dịch vụ tại cộng đồng và tiếp cận tận nhà đối với người gặp khó khăn về di chuyển. Đây là kinh nghiệm ở một địa bàn cụ thể, không thể suy thành thực trạng của toàn bộ phụ nữ khuyết tật Việt Nam, nhưng cho thấy tiền hỗ trợ chỉ là một phần của khả năng tiếp cận dịch vụ.
Nhìn rộng hơn, một chính sách có trách nhiệm giới không nên đặt phụ nữ khuyết tật trong vai trò thụ động cần được “bảo vệ”. Chính sách tốt phải giúp họ có thêm khả năng tự quyết, tiếp cận y tế, chăm sóc con, học nghề, làm việc và tham gia đời sống xã hội.
Phụ Nữ Mới từng phân tích rằng công nghệ trợ giúp phù hợp hơn khi phụ nữ tham gia thiết kế, bởi trải nghiệm của người sử dụng phải được đưa vào quá trình xác định nhu cầu chứ không chỉ xuất hiện sau khi sản phẩm hoặc chính sách đã hoàn thành.
Thủ tục gọn hơn nhưng phải thực sự tiếp cận được
Nghị định 335 cho phép người đề nghị gửi hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua bưu chính hoặc trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa. Trong vòng 7 ngày làm việc từ khi nhận hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú thực hiện xác thực thông tin, thẩm định và quyết định trợ cấp hoặc hỗ trợ chăm sóc. Đối với hồ sơ mới, thời gian hưởng được tính từ tháng quyết định được ký.
Về thủ tục hành chính, đây là bước thuận tiện hơn. Nhưng “có thể nộp trực tuyến” chưa tự động đồng nghĩa với tiếp cận bình đẳng. Một cổng dịch vụ khó sử dụng với phần mềm đọc màn hình, một Bộ phận Một cửa có bậc thềm nhưng thiếu đường dốc, hay thông tin chỉ truyền đạt bằng văn bản với người khiếm thính đều có thể biến thủ tục ngắn trên giấy thành hành trình dài ngoài đời.
![]() |
| Hoạt động đào tạo kỹ năng sinh kế cho người khuyết tật tại Đà Nẵng. Chính sách trợ giúp có hiệu quả hơn khi đi cùng khả năng tiếp cận học nghề, việc làm và dịch vụ. Ảnh: Richard Nyberg/USAID Vietnam, Public Domain. |
Bởi vậy, cấp xã – nơi trực tiếp xác thực và ra quyết định – là mắt xích quan trọng nhất. Cán bộ cần có cách hỗ trợ phù hợp với từng dạng khuyết tật, hạn chế yêu cầu người đang mang thai phải đi lại nhiều lần, đồng thời phối hợp với tổ chức của người khuyết tật khi cần hướng dẫn hồ sơ và tiếp cận dịch vụ.
Một chi tiết khác đáng theo dõi là Nghị định quy định nếu cả vợ và chồng đều là người khuyết tật thuộc diện hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc thì chỉ được hưởng một suất hỗ trợ. Quy định này đã có từ chính sách trước và tiếp tục được duy trì.
Về mặt quản lý, đây là cách tính theo hộ gia đình. Nhưng khi một người đang mang thai hoặc trực tiếp chăm sóc con nhỏ, thực thi cần bảo đảm khoản hỗ trợ thực sự phục vụ nhu cầu của người phát sinh nhu cầu chăm sóc, thay vì chỉ dừng ở việc xác định một “suất” chung trên hồ sơ. Dữ liệu theo giới, mức độ khuyết tật, tình trạng mang thai, nuôi con và người thực nhận hỗ trợ sẽ giúp đánh giá chính sách chính xác hơn.
UN Women cũng khuyến nghị ngân sách có trách nhiệm giới và hòa nhập khuyết tật cần đi cùng dữ liệu giao thoa và sự tham gia của chính phụ nữ khuyết tật trong quá trình xây dựng, lập ngân sách và đánh giá chính sách.
Điều này cũng liên quan tới câu chuyện rộng hơn về lao động chăm sóc không lương của phụ nữ. Khi một người vừa có nhu cầu được hỗ trợ do khuyết tật, vừa mang thai hoặc trực tiếp chăm sóc trẻ nhỏ, chính sách an sinh cần nhìn được cả hai chiều: họ có thể cần được chăm sóc, nhưng đồng thời vẫn là người chăm sóc người khác.
Mức tăng từ 750.000 lên 810.000 đồng hay từ 1 triệu lên 1,08 triệu đồng khó có thể tự nó giải quyết các chi phí phát sinh của thai kỳ và nuôi con. Giá trị lớn hơn của quy định nằm ở việc nhu cầu chăm sóc được đặt thành một cấu phần riêng trong hệ thống trợ giúp.
Để cấu phần đó đi tới đời sống, việc thực thi cần được đo không chỉ bằng số quyết định đã ký mà còn bằng những câu hỏi cụ thể: bao nhiêu phụ nữ khuyết tật đủ điều kiện đã biết chính sách; thủ tục có tiếp cận được với từng dạng khuyết tật hay không; thời gian giải quyết thực tế là bao lâu; và người nhận có thể chủ động sử dụng khoản hỗ trợ cho nhu cầu của mình hay không.
Đó mới là khoảng cách giữa một mức trợ giúp được ghi trong nghị định và một chính sách thực sự có giá trị với người sử dụng.





















Cha mẹ đơn thân nghèo sẽ được trợ cấp 540.000 đồng mỗi con
Công nghệ trợ giúp tốt hơn khi phụ nữ cùng tham gia thiết kế
Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ bớt gánh nặng
Cùng chuyên mục
Người khuyết tật nặng mang thai có mức hỗ trợ 810.000 đồng
Thai phụ có thể biết giới tính thai nhi khi cần chẩn đoán bệnh
Lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài cần rõ chi phí từ đầu
Từ 10/9, vi phạm quyền lao động nữ có thể bị phạt 40 triệu đồng
Quyền lợi thai sản tự nguyện cho nữ lao động phi chính thức
Nhà ở cho thuê cần tính đến phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ