![]() |
| Nữ kỹ sư thực hiện phép thử trong môi trường kỹ thuật chuyên dụng. Hoạt động đo lường và kiểm chứng là cơ sở để nhiều yêu cầu kỹ thuật được xây dựng và đánh giá trong thực tế. Ảnh minh họa quốc tế: ThisIsEngineering/Pexels. |
Một chiếc mũ bảo hộ, thiết bị y tế, phần mềm hay sản phẩm chăm sóc cá nhân trước khi đến tay người dùng thường phải đi qua hàng loạt yêu cầu về kích thước, độ bền, an toàn, phương pháp thử và cách ghi nhãn. Phần lớn người tiêu dùng không nhìn thấy những quy định kỹ thuật ấy, nhưng chúng hiện diện trong rất nhiều sản phẩm được sử dụng mỗi ngày.
Điều đáng quan tâm từ góc nhìn giới là: ai đã tham gia xây dựng những yêu cầu đó và dữ liệu của nhóm người nào được đưa vào quá trình thử nghiệm? Tháng 3/2026, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đặt vấn đề khá trực diện khi cho rằng sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn có thể giúp các yêu cầu về sản phẩm phản ánh tốt hơn điều kiện sử dụng thực tế, cải thiện an toàn, khả năng tiếp cận và tính phù hợp với người dùng.
Đây là một không gian ít được nhắc tới khi nói về nữ trí thức. Nhà khoa học, kỹ sư hay chuyên gia y tế không nhất thiết phải trực tiếp tạo ra một sản phẩm mới mới có thể tác động tới đời sống; tri thức chuyên môn của họ còn có thể được chuyển thành tiêu chí, phương pháp thử và chuẩn mực để hàng nghìn sản phẩm sau đó được phát triển tốt hơn.
Khi chuyên môn của phụ nữ đi vào những con số kỹ thuật
Tiêu chuẩn thường được nhìn như một lĩnh vực khô và thuần kỹ thuật. Thực tế, đằng sau mỗi giới hạn về kích thước, độ an toàn, khả năng chịu lực hay cách đánh giá hiệu năng đều là những lựa chọn dựa trên dữ liệu, kinh nghiệm và giả định về người sử dụng.
ISO lưu ý rằng nếu nhóm xây dựng tiêu chuẩn không phản ánh đầy đủ sự đa dạng của người dùng, những điểm mù có thể xuất hiện. Trong nhiều năm, hình nộm thử nghiệm va chạm ô tô chủ yếu dựa trên đặc điểm cơ thể nam giới; một số thiết bị bảo hộ cá nhân cũng được phát triển từ kích thước cơ thể nam. Những ví dụ này được ISO sử dụng để giải thích vì sao sự đa dạng trong nhóm chuyên gia không phải yếu tố mang tính hình thức, mà có liên quan trực tiếp tới chất lượng của yêu cầu kỹ thuật.
Ở chiều tích cực, khi nữ chuyên gia tham gia từ đầu, họ có thể đặt thêm những câu hỏi mà một nhóm kỹ thuật thuần nhất chưa chắc đã nghĩ tới: sản phẩm có vừa với nhiều dạng cơ thể hay không, thao tác có thuận tiện trong điều kiện sử dụng thực tế không, thông tin trên nhãn có dễ hiểu, dữ liệu thử nghiệm đã phản ánh đầy đủ nhóm người sử dụng chưa.
Chính những câu hỏi ấy biến trải nghiệm đời sống thành dữ liệu kỹ thuật. Một vấn đề tưởng như thuộc về bình đẳng giới vì vậy có thể đi thẳng vào chất lượng sản phẩm.
![]() |
| Những phép đo và quá trình hiệu chỉnh giúp chuyển yêu cầu kỹ thuật thành các giá trị có thể kiểm tra trong thực tế. Ảnh minh họa quốc tế: ThisIsEngineering/Pexels. |
Khi người sử dụng cùng tham gia định hình tiêu chuẩn
Một ví dụ được ISO đưa ra năm 2026 là hoạt động của ISO/TC 338, ban kỹ thuật đang phát triển các tiêu chuẩn liên quan đến sản phẩm kinh nguyệt. Các cuộc thảo luận không chỉ xoay quanh vật liệu mà còn xem xét độ thấm hút, vệ sinh, độ bền, độ vừa vặn, an toàn và tác động môi trường. Khi phụ nữ – với tư cách người sử dụng, nhà sản xuất và chuyên gia – hiện diện trong quá trình này, những nhu cầu thực tế có cơ hội được chuyển thành yêu cầu có thể đo lường và kiểm chứng.
ISO dẫn trường hợp Fatou Bintou Thiam, CEO của Global Service For Women tại Senegal và là thành viên ISO/TC 338. Việc tham gia tiêu chuẩn hóa giúp doanh nghiệp của bà tiếp cận kiến thức kỹ thuật và các yêu cầu tuân thủ, từ đó có cơ sở đối chiếu sản phẩm băng vệ sinh tái sử dụng với những chuẩn mực an toàn được công nhận.
Điểm đáng quan tâm không nằm ở một sản phẩm riêng lẻ. Khi kinh nghiệm của người sử dụng được đưa vào tiêu chuẩn, kết quả có thể tác động tới cả một nhóm sản phẩm và nhiều nhà sản xuất khác nhau. Một đóng góp chuyên môn vì thế có khả năng lan rộng hơn phạm vi của một phòng thí nghiệm hay một doanh nghiệp.
Đối với nữ trí thức, đây là một cách khác để tri thức tạo ra giá trị xã hội: tham gia xác lập những chuẩn mực mà nghiên cứu, sản xuất và thị trường cùng dựa vào.
Tiêu chuẩn đáp ứng giới đang trở thành một hướng kỹ thuật riêng
ISO và Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC) đã phát triển hướng dẫn về tiêu chuẩn đáp ứng giới nhằm giúp các ban kỹ thuật nhận diện những tác động khác nhau của tiêu chuẩn đối với các nhóm người sử dụng. Đến năm 2026, ISO/IEC DGuide 79 – Gender responsive standards — Guidance for standards developers – đang trong quá trình xây dựng và lấy ý kiến trong hệ thống ISO. Đây chưa phải tiêu chuẩn quốc tế đã được ban hành, mà là một dự thảo hướng dẫn đang phát triển.
Điểm mới của cách tiếp cận này là yếu tố giới không được xử lý sau khi tiêu chuẩn đã hoàn tất. Người xây dựng tiêu chuẩn được khuyến khích xem xét từ quá trình xác định đối tượng sử dụng, dữ liệu đầu vào, yêu cầu kỹ thuật đến phương pháp đánh giá.
ISO cũng đang thu thập dữ liệu về sự tham gia của phụ nữ trong các ban kỹ thuật và vị trí lãnh đạo tiêu chuẩn hóa để theo dõi sự thay đổi. Mục tiêu “All Voices Heard” trong Chiến lược ISO 2030 đặt sự đa dạng và tính bao trùm vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn, gắn với Mục tiêu phát triển bền vững số 5 về bình đẳng giới.
ISO/IEC DGuide 79 đang ở giai đoạn dự thảo
ISO/IEC DGuide 79 có tên Gender responsive standards — Guidance for standards developers, được ISO và IEC phát triển nhằm cung cấp hướng dẫn cho những người xây dựng tiêu chuẩn khi xem xét tác động về giới. Theo hồ sơ chính thức của ISO, dự án được phê duyệt năm 2025; đến năm 2026 đã chuyển sang giai đoạn dự thảo tiêu chuẩn quốc tế và lấy ý kiến trong hệ thống thành viên ISO. Tài liệu hiện vẫn được ISO ghi rõ là “Under development”, vì vậy không nên gọi đây là một tiêu chuẩn quốc tế đã ban hành. Việc hình thành dự thảo cho thấy cách tiếp cận đáp ứng giới đang được đưa sâu hơn vào phương pháp xây dựng tiêu chuẩn, thay vì chỉ dừng ở tuyên bố về sự tham gia của phụ nữ.
Việt Nam đã đặt vấn đề về tiêu chuẩn đáp ứng giới
Câu chuyện này không hoàn toàn xa với Việt Nam. Trên Cổng thông tin của cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc gia, bài viết về tiêu chuẩn đáp ứng giới công bố năm 2024 đã nêu hai vấn đề: tăng sự đại diện của phụ nữ trong các ban kỹ thuật và bảo đảm tiêu chuẩn có khả năng đáp ứng giới ngay cả khi thành phần ban kỹ thuật chưa cân bằng. Bài viết cũng đề cập yêu cầu các cơ quan xây dựng tiêu chuẩn, trong đó có Việt Nam, quan tâm đến chiến lược và kế hoạch triển khai tiêu chuẩn đáp ứng giới.
Đây là điểm mà nữ trí thức có thể đóng góp rất cụ thể. Một nữ bác sĩ hiểu sự khác biệt trong đáp ứng của cơ thể với thiết bị y tế; kỹ sư có thể nhận ra vấn đề về kích thước, công thái học hoặc bảo hộ lao động; nhà nghiên cứu dữ liệu có khả năng phát hiện một bộ mẫu thử chưa phản ánh đầy đủ người sử dụng; chuyên gia xã hội học lại nhìn thấy những hành vi thực tế mà thiết kế kỹ thuật có thể bỏ qua.
Không phải mọi tiêu chuẩn đều có yếu tố giới rõ rệt. Một yêu cầu về thành phần hóa học hay giao thức kỹ thuật có thể hoàn toàn không cần phân tích giới. Giá trị của cách tiếp cận mới nằm ở khả năng nhận diện đúng những lĩnh vực mà khác biệt về cơ thể, hành vi sử dụng, điều kiện lao động hay môi trường xã hội thực sự có thể ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả của sản phẩm.
![]() |
| Sự tham gia của nữ chuyên gia ở những khâu kỹ thuật và ra quyết định giúp bổ sung thêm trải nghiệm thực tế vào quá trình thiết kế, kiểm thử và xây dựng yêu cầu chất lượng. Ảnh minh họa quốc tế: Kindel Media/Pexels. |
Từ công trình nghiên cứu đến chuẩn mực dùng chung
Các nữ trí thức Việt Nam đang hiện diện ở nhiều mắt xích của quá trình đổi mới sáng tạo: nghiên cứu vật liệu, y học, công nghệ số, nông nghiệp, môi trường, giáo dục, kinh tế và quản lý. Phụ nữ Mới thời gian qua cũng ghi nhận nhiều nhà khoa học nữ đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, tham gia xây dựng quy trình chuyên môn hoặc đóng góp vào các hoạt động nâng cao chất lượng dịch vụ.
Chẳng hạn, TTND PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên cùng các chuyên gia đầu ngành từng tham gia xây dựng hệ thống quy trình kỹ thuật chuyên môn trong khám, chữa bệnh và tổ chức thẩm định trước khi các quy trình được áp dụng trong ngành y tế. Đây không phải trường hợp xây dựng tiêu chuẩn đáp ứng giới theo nghĩa ISO, nhưng cho thấy một con đường quen thuộc của nữ trí thức: kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn có thể được chuyển thành quy trình dùng chung, từ đó tác động vượt ra ngoài công việc của một cá nhân.
Từ góc nhìn ấy, tham gia tiêu chuẩn hóa có thể trở thành một bước tiếp theo đối với những nhà khoa học đã tích lũy đủ độ sâu chuyên môn. Khi một công trình nghiên cứu chỉ ra cách một thiết bị hoạt động tốt hơn, một vật liệu an toàn hơn hoặc một quy trình phù hợp hơn với người sử dụng, câu hỏi tiếp theo là liệu kiến thức đó có thể được đưa vào những tiêu chí dùng chung hay không.
Đây cũng là nơi các mạng lưới nữ trí thức có thể phát huy vai trò kết nối. Nhà khoa học không nhất thiết tự mình theo đuổi toàn bộ quy trình tiêu chuẩn hóa, nhưng tổ chức nghề nghiệp có thể giúp kết nối chuyên gia từ viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các ban kỹ thuật để kinh nghiệm khoa học được đưa đến đúng nơi cần thiết.
Khi phụ nữ tham gia, tiêu chuẩn có thêm một lớp dữ liệu
ISO cho rằng sự tham gia của phụ nữ trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn có thể giúp yêu cầu sản phẩm phản ánh tốt hơn điều kiện sử dụng thực tế, phát hiện rủi ro sớm hơn và cải thiện khả năng tiếp cận. Cách nhìn này đưa bình đẳng giới ra khỏi phạm vi những con số về tỷ lệ nam – nữ và đặt nó vào chính chất lượng của sản phẩm, dịch vụ.
Một nữ kỹ sư góp ý về kích thước thiết bị bảo hộ, một bác sĩ đưa dữ liệu khác biệt sinh học vào phương pháp thử, hay một chuyên gia tiêu dùng phát hiện hướng dẫn sử dụng chưa phù hợp với một nhóm khách hàng đều đang làm một việc rất cụ thể: bổ sung dữ liệu cho quá trình ra quyết định kỹ thuật.
Vì thế, sự hiện diện của nữ trí thức trong tiêu chuẩn hóa không nên được hiểu đơn giản là thêm phụ nữ vào một ban chuyên môn. Ý nghĩa sâu hơn nằm ở việc mở rộng nguồn tri thức mà ban đó có thể sử dụng.
![]() |
| Dữ liệu nghiên cứu là một trong những nền tảng để các yêu cầu về an toàn, hiệu năng và chất lượng được xây dựng trên cơ sở khoa học. Ảnh minh họa quốc tế: Artem Podrez/Pexels. |
Với khoa học, một phát hiện tốt tạo thêm hiểu biết. Với đổi mới sáng tạo, một sản phẩm tốt giải quyết được vấn đề. Còn với tiêu chuẩn hóa, một yêu cầu kỹ thuật tốt có thể giúp nhiều sản phẩm và nhiều tổ chức cùng làm tốt hơn.
Đó là lý do tiếng nói của nữ trí thức ở bàn xây dựng tiêu chuẩn đáng được nhìn như một phần của quá trình phát huy tài năng và trí tuệ. Khi kinh nghiệm nghiên cứu, dữ liệu và trải nghiệm của phụ nữ được chuyển thành những yêu cầu kỹ thuật rõ ràng, bình đẳng giới không đứng bên ngoài công nghệ. Nó trở thành một trong những cách giúp công nghệ phục vụ con người chính xác hơn.
Nguồn box: International Organization for Standardization (ISO), ISO/IEC DGuide 79, hồ sơ cập nhật năm 2026.





















AI trước bài toán bình đẳng giới: Công nghệ không thể trung lập nếu dữ liệu còn thiên lệch
Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Nữ nhà khoa học góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Nữ trí thức góp tiếng nói để tiêu chuẩn kỹ thuật sát đời sống
Mạng lưới cố vấn tiếp sức cho nữ nghiên cứu trẻ trong khoa học
Công nghệ trợ giúp tốt hơn khi phụ nữ cùng tham gia thiết kế
Khoảng cách tiền lương đẩy phụ nữ vào bất lợi nghề nghiệp
Phụ nữ vẫn đứng ngoài nhiều vị trí ra quyết định toàn cầu
Phụ nữ làm chủ hợp tác xã: Từ tạo việc làm đến kiến tạo sinh kế bền vững