![]() |
| Nông dân Nguyễn Thị Thu Hương tại Đồng bằng sông Cửu Long, người tham gia mô hình canh tác thích ứng khí hậu của FAO. Ảnh: FAO. |
Nói đến nông nghiệp phát thải thấp, người ta thường nghĩ tới giống mới, lượng phân bón, cách tưới nước, xử lý phụ phẩm hay công nghệ giúp giảm đầu vào. Nhưng cùng một chương trình kỹ thuật có thể mang lại cơ hội khác nhau cho những người trực tiếp sản xuất, tùy vào ai được tập huấn, ai tiếp cận nguồn lực và ai có quyền quyết định cách đầu tư trên ruộng, ao hay trong hộ gia đình.
Một nghiên cứu đăng trên PLOS Sustainability and Transformation ngày 1/7/2026 đã đi vào khoảng cách này tại Sóc Trăng. Nhóm tác giả khảo sát cách yếu tố giới được đưa từ chính sách vào các hoạt động xây dựng hệ thống thực phẩm phát thải thấp ở địa phương. Dữ liệu thực địa được thu thập trong năm 2024, vì vậy không thể coi đây là bức ảnh toàn cảnh của nông nghiệp Việt Nam năm 2026. Giá trị của nghiên cứu nằm ở việc cho thấy những vấn đề có thể xuất hiện khi mục tiêu bình đẳng giới đi từ văn bản xuống cấp triển khai.
Nhóm nghiên cứu kết hợp rà soát chính sách với phỏng vấn 24 cán bộ, đại diện tổ chức và cơ quan địa phương, gồm 12 nữ và 12 nam; khảo sát 24 hộ gia đình và tổ chức sáu cuộc thảo luận nhóm với phụ nữ, nam giới và thanh niên tại hai địa bàn nghiên cứu. Quy mô mẫu hộ nhỏ khiến các tỷ lệ không thể suy rộng cho toàn tỉnh hay cả nước, nhưng dữ liệu định tính cho phép nhìn kỹ hơn vào cách phụ nữ và nam giới tham gia những thay đổi trong sản xuất.
Phụ nữ đã có mặt trong những thay đổi trên đồng ruộng
Tại một địa bàn nghiên cứu, phụ nữ tham gia thảo luận cho biết họ áp dụng các kỹ thuật như bón phân chính xác hơn, tái sử dụng nước và kiểm soát liều lượng thuốc trong nuôi trồng thủy sản. Ở địa bàn còn lại, phụ nữ tham gia sản xuất lúa và quản lý rơm rạ, trong đó có việc thu gom, bán hoặc tái sử dụng thay vì đốt.
Các chương trình do Hội Phụ nữ tham gia triển khai cũng được những phụ nữ trong nhóm nghiên cứu đánh giá tích cực, từ hoạt động sản xuất phân hữu cơ đến tập huấn kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ cho lúa. Một số người cho rằng công nghệ sản xuất mới giúp giảm thời gian phải ở ngoài đồng, qua đó họ có thêm thời gian dành cho gia đình.
![]() |
| Nông dân Đỗ Thị Thủy trong mô hình trồng rau nhà kính tại Mộc Châu, Sơn La. Mô hình kết hợp hỗ trợ kỹ thuật và các giải pháp sử dụng tài nguyên hiệu quả. Ảnh: FAO. |
Trong 24 hộ được khảo sát, 92% cho rằng phụ nữ được hưởng lợi từ các chương trình nông nghiệp có hỗ trợ của Nhà nước, đáng chú ý là các hoạt động liên quan đến sản xuất lúa phát thải thấp. Nhưng con số này cần được đọc đúng phạm vi: đây là nhận định của một mẫu 24 hộ trong nghiên cứu trường hợp, không phải tỷ lệ đại diện cho nông dân Sóc Trăng hay phụ nữ Việt Nam.
Quan trọng hơn, nhóm tác giả không tìm thấy cơ sở để kết luận những chương trình ở giai đoạn nghiên cứu đã tạo ra thay đổi rõ rệt trong quan hệ giới. Việc một phụ nữ được cấp giống, dự lớp tập huấn hay áp dụng một kỹ thuật mới chưa tự động trả lời được những câu hỏi khác: ai quyết định đầu tư, ai kiểm soát thu nhập, ai lựa chọn kỹ thuật và tiếng nói của mỗi người có trọng lượng thế nào trong sản xuất.
Ranh giới này đặc biệt đáng chú ý khi Việt Nam đang mở rộng cơ hội để phụ nữ tiếp cận đào tạo khuyến nông. Mở được cửa vào lớp học kỹ thuật là một bước cần thiết; hiệu quả về giới chỉ có thể được nhìn đầy đủ hơn khi biết kiến thức ấy có chuyển thành khả năng lựa chọn, đầu tư và hưởng lợi trong sản xuất hay không.
Có phụ nữ tham gia chưa đủ để nói đã bình đẳng
Nghiên cứu tại Sóc Trăng ghi nhận một khoảng cách khác giữa mục tiêu và cách thực thi. Những người được phỏng vấn nêu tình trạng kinh phí dành cho lồng ghép giới chưa ổn định và có hoạt động phụ thuộc vào từng dự án. Đại diện Hội Phụ nữ trong nghiên cứu cũng phản ánh một số thực hành tốt được hỗ trợ từ bên ngoài khó duy trì sau khi dự án kết thúc.
Một số cán bộ địa phương cho rằng chính sách nông nghiệp có đề cập đến giới nhưng còn thiếu mục tiêu cụ thể, hướng dẫn lồng ghép và cơ chế theo dõi kết quả về giới trong các chương trình phát thải thấp. Những người tham gia thảo luận và các hộ được khảo sát cũng cho biết họ chưa nhận biết những hoạt động cụ thể nhằm đo lường kết quả giới trong các chương trình mà mình tham gia.
Điểm này đặt ra khác biệt giữa hai cách đo. Một chương trình có thể thống kê được bao nhiêu phụ nữ tham dự tập huấn hoặc nhận hỗ trợ. Nhưng nếu muốn biết quá trình chuyển đổi nông nghiệp có thực sự mở rộng cơ hội cho họ hay không, dữ liệu phải đi sâu hơn: phụ nữ có được tiếp cận thông tin kỹ thuật như nam giới không, có tham gia lựa chọn phương án sản xuất không, có tiếp cận nguồn vốn và thiết bị không, và lợi ích kinh tế tạo ra được phân bổ thế nào trong hộ.
PNM từng phân tích một vấn đề tương tự ở chương trình nông thôn mới: tỷ lệ phụ nữ tham gia mô hình kinh tế chưa tự động đồng nghĩa với tỷ lệ tương ứng về quyền quyết định. Chính sự khác nhau giữa “có tên trong chương trình” và “có quyền tác động tới quyết định” cũng xuất hiện trong nghiên cứu về nông nghiệp phát thải thấp.
![]() |
| Cán bộ kỹ thuật và các thành viên thăm mô hình nông nghiệp thông minh tại vườn rau ở Mộc Châu, Sơn La. Ảnh: FAO. |
Nghiên cứu còn ghi nhận những khác biệt trong nhận thức. Một số nam giới tham gia thảo luận cho rằng bình đẳng chỉ cần bảo đảm phụ nữ và nam giới đều được phép tham gia chương trình mà không ưu tiên bên nào. Một số ý kiến lại cho rằng nam giới phù hợp hơn với việc học công nghệ mới, còn phụ nữ nên tập trung chăm sóc gia đình. Trong khi đó, những phụ nữ tham gia thảo luận mô tả vai trò của mình không chỉ ở lao động sản xuất mà còn ở quản lý tài chính và công việc gia đình.
Những ý kiến này không thể đại diện cho nam giới hay phụ nữ nói chung. Nhưng chúng cho thấy một chương trình kỹ thuật có thể gặp rào cản ngay cả khi tiêu chí tiếp cận trên giấy không phân biệt giới. Nếu việc học công nghệ, dự họp hay quyết định đầu tư vẫn được mặc nhiên gắn với một giới, cơ hội chính thức chưa chắc biến thành khả năng tham gia thực tế.
Chuyển đổi xanh cần đo cả quyền quyết định
Năm 2026 được Liên hợp quốc chọn là Năm Quốc tế Nữ nông dân. FAO đặt trọng tâm không chỉ vào việc ghi nhận đóng góp của phụ nữ trong hệ thống nông nghiệp - thực phẩm mà còn vào những khoảng cách về đất đai, tài chính, công nghệ, dịch vụ, đào tạo và quyền tham gia quyết định.
Ở Việt Nam, bình đẳng giới trong nông nghiệp và hợp tác xã cũng đã được đặt ra cùng câu chuyện tiếp cận nguồn lực, công nghệ và vị trí lãnh đạo. Bước tiếp theo của nông nghiệp phát thải thấp vì thế không chỉ là tăng số phụ nữ hiện diện trong các lớp tập huấn hay mô hình trình diễn, mà cần có dữ liệu đủ để biết họ tham gia ở tầng nào của quá trình ra quyết định.
Một bộ chỉ báo giới cho các chương trình loại này có thể theo dõi ít nhất bốn lớp: ai tiếp cận đào tạo và hỗ trợ; ai có quyền sử dụng nguồn lực sản xuất; ai tham gia quyết định kỹ thuật và đầu tư; ai thực sự hưởng phần lợi ích về thu nhập hoặc thời gian. Đây là hướng theo dõi có thể rút ra từ những khoảng trống mà nghiên cứu chỉ ra, chứ chưa phải bộ chỉ tiêu đã được nghiên cứu kiểm nghiệm tại Việt Nam.
Cũng không nên giả định mọi công nghệ giảm lao động ngoài đồng đều tự động cải thiện vị thế của phụ nữ. Thời gian được tiết kiệm có thể trở thành thời gian nghỉ ngơi, việc tạo thu nhập khác hoặc lại chuyển sang công việc chăm sóc không lương. Muốn biết kết quả thực tế, chương trình phải đo chứ không thể suy ra từ việc công nghệ giúp giảm số giờ sản xuất.
Ở chiều rộng hơn, quá trình chuyển đổi xanh cũng đặt cùng một yêu cầu: không chỉ đếm bao nhiêu phụ nữ đã có mặt, mà cần nhìn họ vào được bằng con đường nào, có quyền tiếp cận kỹ năng và nguồn lực ra sao, và có ở lại được trong những cơ hội mới hay không.
Nông nghiệp phát thải thấp có thể thay đổi cách sử dụng nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay phụ phẩm. Nhưng với bình đẳng giới, phần cần tiếp tục theo dõi nằm ở một tầng khác: khi mô hình sản xuất thay đổi, vị trí của người phụ nữ trong các quyết định về sản xuất và nguồn lực có thay đổi cùng hay không.





















Thúc đẩy bình đẳng giới trong nông nghiệp và hợp tác xã
Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Nông thôn mới nâng ngưỡng phụ nữ tham gia mô hình kinh tế
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Nông nghiệp phát thải thấp cần tiếng nói của nữ nông dân
Phụ nữ cần được tự quyết trong chăm sóc thai sản
Phụ nữ và nam giới tạm rời công việc vì những lý do khác nhau
Khi công việc theo điện thoại về nhà
Đà Nẵng tính chuyện chăm trẻ, chăm người già trong quy hoạch thành phố
Minh bạch tiền lương để thấy rõ khoảng cách giữa nam và nữ