![]() |
| Một phụ nữ Mông trên đường tại Bắc Hà, Lào Cai. Ảnh minh họa đời sống phụ nữ ở địa bàn miền núi, không phải người tham gia nghiên cứu. Ảnh: Duong Nguyen/Pexels. |
Một phụ nữ có thể tự quyết việc đi khám nhưng chưa chắc có mức chủ động tương tự trong lựa chọn biện pháp tránh thai hay từ chối quan hệ tình dục. Sự khác nhau giữa ba quyền tưởng như rất gần nhau này hiện khá rõ trong một đánh giá cuối kỳ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại các vùng dân tộc thiểu số.
Trong nhóm phụ nữ được khảo sát, tỷ lệ cho biết có quyền quyết định sử dụng dịch vụ y tế tăng từ 86,3% ở đầu kỳ lên 99,9% ở cuối kỳ; quyền quyết định về tránh thai từ 86% lên 99,7%. Nhưng tỷ lệ cho biết có thể từ chối quan hệ tình dục thấp hơn, từ 69,9% lên 78,4%. Khi tính đồng thời cả ba phương diện, tỷ lệ phụ nữ có quyền tự chủ tăng từ 61,3% lên 78,1%.
Các con số thuộc dự án “Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam”, do Bộ Y tế và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) thực hiện từ tháng 9/2021 đến tháng 3/2026 tại 60 xã đặc biệt khó khăn thuộc sáu tỉnh theo địa giới sử dụng trong thời gian triển khai. Đánh giá cuối kỳ được tiến hành từ tháng 8 đến tháng 11/2025, trong đó phỏng vấn 720 bà mẹ dân tộc thiểu số có con dưới hai tuổi tại 12 xã, khai thác dữ liệu từ 60 trạm y tế xã và thực hiện 60 cuộc phỏng vấn sâu. Thiết kế nghiên cứu là cắt ngang lặp lại tại cùng địa bàn, vì vậy những thay đổi giữa đầu kỳ và cuối kỳ không nên được hiểu rằng toàn bộ đều do một can thiệp duy nhất tạo ra.
Tự quyết không phải một quyền duy nhất
Trong chăm sóc thai sản, khả năng tiếp cận thường được nhìn qua những gì dễ đếm: phụ nữ khám thai bao nhiêu lần, sinh ở đâu, có nhân viên y tế hỗ trợ hay có được kiểm tra sau sinh hay không. Những chỉ số đó rất cần thiết, nhưng chưa mô tả hết vị trí của người phụ nữ trong quá trình chăm sóc chính cơ thể mình.
Tại các địa bàn khảo sát, tỷ lệ phụ nữ khám thai ít nhất bốn lần tăng từ 11,3% lên 36%; sinh con tại cơ sở y tế tăng từ 29,9% lên 57,1%; ca sinh có nhân viên y tế được đào tạo hỗ trợ tăng từ 36,2% lên 63,2%; còn tỷ lệ được kiểm tra sau sinh trong bảy ngày đầu tăng từ 41,1% lên 73,2%. Đây là những thay đổi lớn trong bốn năm, nhưng chúng phản ánh chủ yếu việc phụ nữ đã sử dụng dịch vụ như thế nào.
Quyền tự quyết đặt thêm một câu hỏi khác: người phụ nữ có tiếng nói đến đâu khi quyết định sử dụng những dịch vụ ấy. Kết quả cuối kỳ cho thấy gần như toàn bộ phụ nữ được khảo sát cho biết họ có quyền quyết định về chăm sóc y tế và tránh thai. Tuy nhiên, chỉ 78,4% cho biết có quyền từ chối quan hệ tình dục. Khoảng cách giữa các chỉ số cho thấy không nên gom “quyền tự chủ” thành một khái niệm chung rồi mặc nhiên cho rằng một người có quyền ở lĩnh vực này thì cũng có quyền tương tự ở lĩnh vực khác.
Điều này đặc biệt liên quan đến sức khỏe sinh sản. Quyết định có sử dụng một biện pháp tránh thai, khi nào đi khám hay nơi sinh con có thể được trao đổi trong gia đình, và sự hỗ trợ của chồng hoặc người thân có thể rất cần thiết. Nhưng trao đổi và hỗ trợ khác với việc người khác quyết định thay cho người phụ nữ về biện pháp tác động lên cơ thể mình hoặc về quan hệ tình dục.
Ở khía cạnh này, trách nhiệm tránh thai của cả hai giới không mâu thuẫn với quyền tự quyết của phụ nữ. Nam giới cùng tìm hiểu, cùng chia sẻ chi phí và trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình không có nghĩa quyền lựa chọn phương pháp hoặc quyền đồng ý của người phụ nữ bị chuyển cho người khác. Hai yêu cầu này cần tồn tại đồng thời.
![]() |
| Một phụ nữ Mông tại chợ Bắc Hà, Lào Cai. Ảnh minh họa, nhân vật không được xác định là người tham gia dự án. Ảnh: Duong Nguyen/Pexels. |
Những thay đổi tại địa bàn khảo sát
- Khám thai ít nhất bốn lần: 11,3% → 36%
- Sinh tại cơ sở y tế: 29,9% → 57,1%
- Có nhân viên y tế được đào tạo hỗ trợ khi sinh: 36,2% → 63,2%
- Kiểm tra sau sinh trong bảy ngày: 41,1% → 73,2%
Các số liệu so sánh khảo sát đầu kỳ năm 2021 với cuối kỳ năm 2025 tại địa bàn dự án, không phải tỷ lệ đại diện cho toàn bộ phụ nữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Có quyền quyết định vẫn cần có đường đến dịch vụ
Quyền lựa chọn chỉ thực sự có ý nghĩa khi người phụ nữ có điều kiện thực hiện lựa chọn đó. Dữ liệu về nơi sinh cho thấy một chuyển dịch đáng kể. Ở đầu kỳ, những lý do liên quan tới nhận thức hoặc sở thích cá nhân như quen sinh tại nhà, cho rằng sinh bình thường không cần đến cơ sở y tế hoặc thích sinh tại nhà chiếm 40,2% trong các lý do được những phụ nữ sinh ngoài cơ sở y tế nêu ra. Đến cuối kỳ, nhóm lý do này còn 10,8%.
Tuy nhiên, các lý do khác không giảm theo cách tương tự. Báo cáo không ghi nhận thay đổi có ý nghĩa thống kê giữa đầu kỳ và cuối kỳ đối với nhóm rào cản gồm yếu tố văn hóa, tài chính và phương tiện đi lại, thời điểm hoặc tốc độ chuyển dạ cùng một số nguyên nhân khác. Tổng tỷ lệ nêu các lý do này là 29,9% ở đầu kỳ và 32% ở cuối kỳ. Báo cáo vẫn xác định khó khăn tài chính và khoảng cách địa lý là những rào cản cần tiếp tục được xử lý.
Vì vậy, mở rộng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em không chỉ là tăng số cơ sở hoặc tăng khả năng chuyên môn. Với phụ nữ ở những địa bàn xa trung tâm, một dịch vụ có thể tồn tại nhưng chưa chắc đã dễ tiếp cận nếu quãng đường dài, phương tiện khó thu xếp hoặc chi phí đi lại trở thành trở ngại đúng vào thời điểm cần khám hay chuyển dạ.
Bức tranh về tránh thai cũng cho thấy giới hạn tương tự giữa quyền quyết định và khả năng biến quyết định thành thực tế. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại trong khảo sát tăng từ 50,4% lên 56,1%, trong khi nhu cầu tránh thai hiện đại chưa được đáp ứng thay đổi từ 23,7% lên 24,9%; mức thay đổi thứ hai không có ý nghĩa thống kê. Báo cáo đề cập tới gián đoạn chuỗi cung ứng giai đoạn 2021–2023, giảm nguồn ngân sách trong nước cho kế hoạch hóa gia đình và những vướng mắc trong mua sắm.
Một phụ nữ có quyền nói mình muốn sử dụng biện pháp tránh thai nhưng dịch vụ hoặc phương tiện phù hợp không sẵn có thì lựa chọn vẫn bị giới hạn từ phía hệ thống. Ngược lại, dịch vụ đầy đủ cũng chưa giải quyết được vấn đề nếu người sử dụng không được cung cấp thông tin, không thể tự lựa chọn hoặc tiếng nói của họ bị lấn át trong các quyết định liên quan trực tiếp đến cơ thể.
Đây cũng là lý do bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số không thể chỉ được nhìn bằng số lượng phụ nữ nhận được một dịch vụ. Khả năng tham gia vào quyết định, mức độ tiếp cận thực tế và những rào cản khiến một số phụ nữ chưa sử dụng được dịch vụ cũng cần được đặt cạnh các chỉ tiêu bao phủ.
![]() |
| Một khu dân cư miền núi tại Bắc Hà, Lào Cai. Ảnh dùng minh họa điều kiện địa lý, không xác định đây là địa bàn của dự án. Ảnh: Duong Nguyen/Pexels. |
Ngày 24/3/2026, Bộ Y tế và UNFPA tổ chức hội nghị tổng kết và nhân rộng mô hình dự án giảm tử vong mẹ tại vùng dân tộc thiểu số. Việc nhân rộng đặt ra yêu cầu chọn đúng những yếu tố cần giữ lại khi một mô hình đi từ phạm vi dự án sang thực tiễn rộng hơn.
Nếu chỉ theo dõi số lượt khám thai, tỷ lệ sinh tại cơ sở y tế hay số phụ nữ được chăm sóc sau sinh, kết quả sẽ cho biết hệ thống đã phục vụ được bao nhiêu người. Nhưng để nhìn từ góc độ giới, cần thêm một lớp dữ liệu khác: phụ nữ có thực sự được tham gia quyết định về chăm sóc y tế, tránh thai và quan hệ tình dục hay không; những người chưa tiếp cận dịch vụ đang vướng vì khoảng cách, chi phí, nguồn cung hay một rào cản khác.
Đánh giá cuối kỳ đã cho thấy quyền tự chủ của phụ nữ có thể được đo lường chứ không chỉ được nhắc tới như một nguyên tắc chung. Khi các mô hình chăm sóc thai sản được nhân rộng, việc tiếp tục theo dõi những chỉ số này sẽ giúp phân biệt rõ hai câu hỏi: dịch vụ đã đến gần phụ nữ hơn chưa, và phụ nữ có thực sự có quyền quyết định khi sử dụng những dịch vụ liên quan trực tiếp đến cơ thể mình hay chưa.




















Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, hành động vì một thế hệ tương lai
Tránh thai cần trở thành trách nhiệm chung của cả hai giới
Hội thảo tham vấn Dự án 8: Hoàn thiện giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới vùng DTTS giai đoạn 2026-2030
Cùng chuyên mục
Phụ nữ cần được tự quyết trong chăm sóc thai sản
Phụ nữ và nam giới tạm rời công việc vì những lý do khác nhau
Khi công việc theo điện thoại về nhà
Đà Nẵng tính chuyện chăm trẻ, chăm người già trong quy hoạch thành phố
Minh bạch tiền lương để thấy rõ khoảng cách giữa nam và nữ
Chia sẻ vị trí với người yêu, đâu là ranh giới kiểm soát?