![]() |
| Gia đình vui chơi trên bãi biển Đà Nẵng. Ảnh minh họa: Võ Văn Tiến/Pexels. |
Khoảng cách từ nhà đến trường mầm non, cơ sở chăm sóc người cao tuổi hay nơi hỗ trợ người khuyết tật thường được xem là câu chuyện của dịch vụ xã hội. Nhưng mỗi quãng đường ấy cũng tương ứng với thời gian đưa đón, chờ đợi và sắp xếp công việc của một thành viên trong gia đình. Khi trách nhiệm chăm sóc chưa được chia đều giữa nữ và nam, cách một thành phố bố trí dịch vụ có thể tạo ra tác động giới rất cụ thể.
Ngày 27/5, Đà Nẵng tổ chức tham vấn khung khuyến nghị để hướng tới mô hình “Thành phố chăm sóc”. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, hội thảo đặt lại những câu hỏi khá thực tế: người dân đang cần những loại hình chăm sóc nào, khả năng cung cấp của các cơ sở ra sao, nguồn lực ở đâu và các dịch vụ nên được tổ chức thế nào để những nhóm có nhu cầu khác nhau có thể tiếp cận công bằng hơn.
Điều cần phân biệt là Đà Nẵng chưa phải một “Thành phố chăm sóc” đã hoàn thiện. Thành phố đang ở giai đoạn xây dựng khung khuyến nghị và tham vấn chính sách. Cách gọi này vì thế nên được hiểu như một định hướng đang hình thành, thay vì một kết quả đã đạt được.
Công việc đó nằm trong dự án thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ giai đoạn 2026–2028, được UBND thành phố phê duyệt ngày 6/1/2026. Một trong ba nội dung ưu tiên của dự án là chuyển đổi kinh tế chăm sóc theo hướng công bằng và bền vững, trong đó có việc công nhận, giảm tải và phân bổ hợp lý công việc chăm sóc không được trả lương.
Một bản đồ không chỉ để đánh dấu dịch vụ
Tháng 3/2026, nghiên cứu “Towards Caring Cities” do UN Women và Data-Pop Alliance thực hiện đã đưa câu chuyện chăm sóc ở Đà Nẵng lên bản đồ. Thay vì chỉ đếm số cơ sở, nhóm nghiên cứu đặt nơi cung cấp dịch vụ bên cạnh nơi phát sinh nhu cầu chăm sóc, đồng thời chồng thêm các lớp dữ liệu về sử dụng đất và rủi ro khí hậu. Các nhóm dịch vụ được xem xét gồm chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật.
Cách tiếp cận này thay đổi câu hỏi. Một thành phố có bao nhiêu nhà trẻ chưa đủ để nói về khả năng tiếp cận nếu các cơ sở tập trung ở nơi khác với khu dân cư có nhu cầu cao. Tương tự, một dịch vụ chăm sóc người cao tuổi có tồn tại cũng chưa đồng nghĩa mọi gia đình đều có thể sử dụng nếu vị trí, khả năng chi trả hoặc điều kiện tiếp cận không phù hợp.
Phần phương pháp của nghiên cứu còn đưa đất đai, mật độ dân cư và nguy cơ ngập lụt, bão vào cùng hệ thống phân tích. Lý do khá trực tiếp: thiên tai có thể làm gián đoạn giao thông và hoạt động của cơ sở chăm sóc đúng lúc trẻ nhỏ, người cao tuổi hay người khuyết tật cần thêm hỗ trợ. Nhìn theo cách này, hạ tầng chăm sóc không đứng riêng khỏi quy hoạch giao thông, sử dụng đất hay khả năng chống chịu của đô thị.
Một khảo sát được báo cáo dẫn lại ghi nhận khoảng 5,4% trẻ dưới 6 tuổi trong phạm vi khảo sát, tương đương khoảng 4.000 trẻ, không tham gia một dịch vụ giáo dục mầm non chính thức và được chăm sóc trong gia đình, phần lớn bởi thành viên nữ. Con số này cần được giữ đúng phạm vi nghiên cứu, không tự động suy rộng thành tỷ lệ của toàn bộ địa bàn Đà Nẵng hiện nay sau những thay đổi hành chính. Điều đáng chú ý hơn nằm ở khoảng trống mà dữ liệu chỉ ra: nơi dịch vụ chính thức chưa đáp ứng, gia đình phải tự lấp phần việc còn lại.
![]() |
| Ông bà và trẻ nhỏ bên sông tại Đà Nẵng. Ảnh minh họa: Thái Trường Giang/Pexels. |
Khoảng trống dịch vụ có thể trở thành khoảng trống thời gian
Khảo sát tại Đà Nẵng được thực hiện với hộ gia đình, đơn vị cung cấp dịch vụ và nhóm cán bộ, chuyên gia. Kết quả được báo cáo cho thấy phụ nữ đảm nhận trách nhiệm lớn hơn nam giới trong nhiều nhóm công việc, từ chăm trẻ, người cao tuổi, người khuyết tật đến những việc duy trì đời sống gia đình thường ngày.
Trục giới của câu chuyện vì thế không nằm ở việc coi chăm sóc là “việc của phụ nữ”. Ngược lại, vấn đề là một hệ thống dịch vụ được tổ chức thế nào để trách nhiệm đó không mặc nhiên rơi vào một giới, đồng thời để cả phụ nữ và nam giới có thêm khả năng lựa chọn cách kết hợp công việc, gia đình và đời sống cá nhân.
Sự khác biệt này quan trọng. Nếu chỉ yêu cầu các gia đình “chia sẻ việc nhà”, một phần trách nhiệm vẫn được giữ nguyên bên trong căn nhà. Nhưng khi nhu cầu chăm sóc được tính trong quy hoạch dịch vụ công, đầu tư xã hội và giao thông, một phần câu chuyện chuyển sang câu hỏi về cách thành phố sử dụng nguồn lực.
Một cơ sở nằm gần khu dân cư, dịch vụ có mức phí phù hợp hay mạng lưới hỗ trợ người cao tuổi được kết nối tốt không tự động tạo ra bình đẳng giới. Tuy nhiên, chúng có thể làm thay đổi lượng thời gian mà một gia đình phải tự bỏ ra để bù cho khoảng trống dịch vụ. Chính vì vậy, nghiên cứu tại Đà Nẵng không chỉ khảo sát số cơ sở mà còn xem xét khả năng chi trả, chất lượng dịch vụ và điều kiện của lực lượng lao động chăm sóc.
Cách nhìn này cũng tránh một ngộ nhận khác: đầu tư vào kinh tế chăm sóc chỉ dành cho phụ nữ. Trẻ nhỏ, người cao tuổi, người khuyết tật và cả nam giới có trách nhiệm chăm sóc đều là những người có thể sử dụng hoặc hưởng lợi từ hệ thống này. Góc giới xuất hiện ở chỗ phải nhận diện liệu lợi ích và chi phí thời gian đang được phân bổ khác nhau thế nào giữa các nhóm.
![]() |
| Một phụ nữ đi xe đạp trên đường phố Đà Nẵng. Ảnh minh họa: G Y/Pexels. |
Từ khung tham vấn đến vị trí đặt dịch vụ
Thách thức tiếp theo không còn nằm ở việc đặt tên cho mô hình. Báo cáo về Đà Nẵng nhận định nguồn tài chính dành cho chăm sóc còn phân tán và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, đồng thời đặt ra yêu cầu phối hợp nhiều lĩnh vực thay vì coi chăm sóc là nhiệm vụ riêng của một ngành. Hội thảo tháng 5 của thành phố cũng dành nội dung cho cơ chế phối hợp liên ngành, nguồn lực thực hiện và tiêu chí đánh giá mô hình.
Điều này khiến kết quả của quá trình xây dựng “Thành phố chăm sóc” có thể được nhìn qua những chỉ dấu cụ thể hơn: nơi nào đang thiếu dịch vụ so với nhu cầu; người dân có tiếp cận được hay không; mức phí và chất lượng ra sao; lao động chăm sóc làm việc trong điều kiện nào; khu vực nào dễ bị gián đoạn dịch vụ khi có thiên tai.
Đáng chú ý, hội thảo tháng 5 diễn ra sau sắp xếp đơn vị hành chính và xác định lại việc đánh giá thực trạng, nhu cầu cũng như năng lực cung cấp dịch vụ trên địa bàn. Điều đó khiến dữ liệu không thể chỉ được làm một lần rồi giữ nguyên. Bản đồ chăm sóc sẽ có ý nghĩa với chính sách khi nó tiếp tục phản ánh nơi dân cư sống, nơi nhu cầu thay đổi và nơi nguồn lực thực tế được bố trí.
Đà Nẵng mới đang ở đầu quá trình này. Từ nay đến hết giai đoạn dự án 2026–2028, phần cần theo dõi không phải thành phố có sử dụng tên gọi “Thành phố chăm sóc” nhiều đến đâu, mà là những dữ liệu về trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và người đang trực tiếp làm công việc chăm sóc có đi vào quyết định về dịch vụ, nguồn lực và quy hoạch hay không.
Nếu việc chăm sóc vẫn chỉ được giải quyết sau cánh cửa mỗi gia đình, những khoảng cách trên bản đồ đô thị có thể tiếp tục trở thành quãng thời gian mà một ai đó phải tự bù đắp. Khi khoảng thời gian ấy được đo đếm cùng với đường sá, trường học và các dịch vụ thiết yếu khác, bình đẳng giới mới có thêm một thước đo cụ thể trong cách thành phố vận hành.




















Trên ứng dụng, đàn ông chạy xe, phụ nữ nhận việc nhà
Muốn phụ nữ sinh con, chính sách phải tính đến việc chăm sóc
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới
Cùng chuyên mục
Phụ nữ và nam giới tạm rời công việc vì những lý do khác nhau
Khi công việc theo điện thoại về nhà
Đà Nẵng tính chuyện chăm trẻ, chăm người già trong quy hoạch thành phố
Minh bạch tiền lương để thấy rõ khoảng cách giữa nam và nữ
Chia sẻ vị trí với người yêu, đâu là ranh giới kiểm soát?
Doanh nhân - diễn giả Lê Hồng Thủy Tiên: Bình đẳng giới bắt đầu từ một cơ hội công bằng