![]() |
| Một phụ nữ đi xe máy qua khu chợ tại Sài Gòn. Ảnh minh họa: Kushie In Vietnam/Pexels. |
Khách hàng có thể đặt xe, thuê người dọn nhà hoặc tìm người hỗ trợ việc gia đình chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại. Cách kết nối công việc đã mới, nhưng những người thực hiện từng loại việc vẫn được phân chia theo một đường ranh khá cũ.
Trong khảo sát của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 6/2026, nam giới chiếm 95% lao động GrabBike và 98% GrabCar. Chiều ngược lại, phụ nữ chiếm 100% lao động JupViec và 97% bTaskee.
“Nhận việc nhà” ở đây là những công việc dịch vụ gia đình có trả phí qua nền tảng, không phải việc nhà không lương. Phát hiện này cho thấy thị trường lao động số không tự động xóa bỏ quan niệm nghề nào dành cho nam, nghề nào phù hợp với nữ.
Hai thị trường trong một chiếc điện thoại
Ngân hàng Thế giới thu thập 4.930 phiếu khảo sát trực tuyến từ tháng 3 đến tháng 5/2026, trong đó 4.898 trường hợp được đưa vào phân tích. Người tham gia là lao động đang hoạt động trên GrabBike, GrabCar, JupViec và bTaskee.
Kết quả tạo ra hai nhóm nghề gần như tách biệt. Nam giới tập trung ở công việc gọi xe, phải di chuyển ngoài đường và thường làm nhiều giờ. Phụ nữ tập trung ở dọn dẹp, vệ sinh và những dịch vụ được thực hiện trong không gian gia đình.
Ứng dụng đã đưa công việc nhà từ quan hệ thuê mướn truyền thống lên một thị trường có đặt lịch, đánh giá và thanh toán qua nền tảng. Tuy nhiên, công nghệ chủ yếu thay đổi cách giao việc, chưa làm thay đổi đáng kể người được xem là phù hợp với công việc ấy.
Sự phân chia này không nhất thiết do nền tảng trực tiếp quy định giới tính người lao động. Nó còn chịu ảnh hưởng của kỹ năng đã có, tài sản đầu vào, sự an toàn khi làm việc, trách nhiệm gia đình và quan niệm xã hội.
Một người muốn chạy xe cần có phương tiện, giấy phép, khả năng làm việc ngoài đường trong thời gian dài và chấp nhận rủi ro giao thông. Công việc dịch vụ gia đình có đầu vào khác, đồng thời thường được khách hàng mặc định giao cho phụ nữ. Khi những điều kiện ấy cùng tồn tại, lựa chọn cá nhân rất dễ tạo thành một thị trường phân chia theo giới.
Công việc được trả phí qua JupViec hoặc bTaskee khác với việc chăm sóc không lương trong gia đình. Dù vậy, cả hai đều liên quan đến quan niệm dọn dẹp và chăm sóc là công việc “tự nhiên” của phụ nữ, vấn đề từng được phân tích trong bài Lao động chăm sóc không lương và bất bình đẳng giới.
Thu nhập tháng chưa nói hết giá trị giờ làm
Trong nhóm được khảo sát, 87% nam giới làm việc trên tám giờ mỗi ngày, trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ là 32%. Lao động GrabBike và GrabCar làm trung bình từ 9 đến 10 giờ; lao động dịch vụ gia đình khoảng 6 giờ.
Khác biệt về thời gian kéo sang thu nhập tháng. Có 41% nam giới nhận trên 12 triệu đồng mỗi tháng, so với 21% phụ nữ.
Nếu chỉ dừng ở hai con số này, người đọc có thể kết luận phụ nữ đang được trả công thấp hơn. Nhưng phép tính theo giờ lại cho kết quả khác: thu nhập bình quân ước tính của phụ nữ đạt khoảng 67.000 đồng mỗi giờ, cao hơn mức 55.000 đồng của nam giới.
Đây không phải bằng chứng cho thấy phụ nữ được trả cao hơn nam giới khi làm cùng một công việc. Ngân hàng Thế giới tính mức thu nhập giờ từ trung điểm của các khoảng thu nhập và giờ làm, giả định 22 ngày làm việc mỗi tháng. Báo cáo ghi rõ đây chỉ là ước tính minh họa, không phải số tiền công được đo chính xác.
Kết quả chủ yếu phản ánh sự khác nhau giữa hai nhóm nghề. Gọi xe tạo ra tổng thu nhập tháng cao hơn nhờ số giờ làm dài, trong khi dịch vụ gia đình có thể mang lại thu nhập cao hơn trong từng giờ thực hiện công việc.
Chi phí cũng không giống nhau. Người chạy xe phải chi cho nhiên liệu, phương tiện, bảo dưỡng và những khoản phát sinh trên đường. Báo cáo ước tính chi phí hoạt động chiếm khoảng 25% thu nhập gộp của GrabBike và 24% GrabCar; tỷ lệ tương ứng ở JupViec và bTaskee thấp hơn.
Vì vậy, không thể dùng một con số thu nhập tháng hoặc thu nhập giờ để xác định nghề nào “tốt hơn”. Điều cần đo đồng thời là số giờ làm, thời gian chờ việc, chi phí, mức độ ổn định, rủi ro nghề nghiệp và khả năng tiếp cận an sinh. Ngân hàng Thế giới – Mở rộng bảo hiểm xã hội cho lao động trong kinh tế nền tảng tại Việt Nam
Sự linh hoạt có giá của nó
Linh hoạt về thời gian là lý do phổ biến nhất khiến người lao động lựa chọn công việc qua nền tảng. Tỷ lệ này đạt 82% trong nhóm gọi xe và 87% trong nhóm dịch vụ gia đình, riêng bTaskee lên tới 92%.
Đối với phụ nữ phải thu xếp việc chăm con hoặc gia đình, khả năng chọn ca làm và khoảng thời gian nhận việc có giá trị thực tế. Nó giúp họ duy trì thu nhập thay vì phải rời hẳn thị trường lao động.
![]() |
| Một phụ nữ thực hiện công việc dọn dẹp trong không gian gia đình. Ảnh minh họa: Báo Điện tử Chính phủ. |
Nhưng sự linh hoạt cũng có mặt trái. Nếu phụ nữ chỉ có thể làm việc trong những khoảng thời gian còn lại sau khi hoàn thành trách nhiệm gia đình, tổng số giờ có thu nhập của họ sẽ bị giới hạn. Công việc linh hoạt lúc này giúp giải quyết khó khăn trước mắt, nhưng chưa chắc mở ra lộ trình nghề nghiệp và tích lũy dài hạn.
Đây là điểm cần phân biệt giữa cơ hội tiếp cận việc làm và chất lượng việc làm. Có thêm một ứng dụng để tìm khách là bước tiến. Tuy nhiên, một sinh kế bền vững còn phụ thuộc vào thu nhập ròng, khả năng thương lượng, điều kiện làm việc, bảo hiểm khi gặp rủi ro và khoản tích lũy cho tuổi già.
Bản thân khảo sát cũng có giới hạn. Khoảng 90% mẫu nghiên cứu là lao động Grab, còn nhóm JupViec và bTaskee nhỏ hơn nhiều. Người trả lời là lao động đang hoạt động và khảo sát được thực hiện trực tuyến với sự hỗ trợ của các nền tảng.
Bởi vậy, các tỷ lệ trên mô tả rất rõ bốn nhóm được khảo sát, nhưng không nên được khái quát thành toàn bộ thị trường việc làm qua ứng dụng tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng chưa đủ để xác định nền tảng, định kiến xã hội, trách nhiệm chăm sóc hay điều kiện kinh tế đóng góp bao nhiêu vào sự phân chia nghề theo giới.
An sinh cần đi cùng từng cuốc xe, từng ca làm
Công việc qua ứng dụng thường được hình dung như nguồn thu nhập phụ. Dữ liệu khảo sát lại cho thấy 94% người tham gia được xếp vào nhóm coi công việc nền tảng là việc làm chính; 79% đã làm trên một năm và 47% trên ba năm.
Dù mức độ phụ thuộc khá cao, khoảng 78% người được khảo sát không đóng bảo hiểm xã hội trong sáu tháng trước thời điểm trả lời. Trong nhóm không có việc làm nào khác ngoài nền tảng, tỷ lệ có tham gia bảo hiểm xã hội chỉ đạt 18%.
Khoảng trống này ảnh hưởng đến cả nam và nữ, nhưng rủi ro không hoàn toàn giống nhau. Tài xế nam làm nhiều giờ ngoài đường cần bảo vệ trước tai nạn và mất khả năng lao động. Phụ nữ làm dịch vụ gia đình quan tâm nhiều đến sức khỏe, thai sản, gia đình và thu nhập khi không thể nhận việc.
Chính sách vì thế khó đạt hiệu quả nếu chỉ đưa ra một mức đóng cố định và để từng người tự xoay xở. Thu nhập qua nền tảng biến động theo ngày, mùa vụ và số lượng công việc; cơ chế đóng góp cần có khả năng điều chỉnh theo dòng thu nhập thực tế.
Nền tảng đang nắm dữ liệu về giao dịch, doanh thu và thời gian hoạt động. Hạ tầng đó có thể được sử dụng để nhắc đóng, khấu trừ khoản nhỏ theo từng giao dịch và giúp người lao động theo dõi quá trình tham gia. Tuy nhiên, thuận tiện kỹ thuật không đồng nghĩa toàn bộ trách nhiệm phải chuyển cho người lao động.
Khảo sát cho thấy người tham gia muốn có cơ chế đóng linh hoạt, quyền lợi dễ hiểu và trách nhiệm được chia sẻ giữa người lao động, nền tảng và Nhà nước. Đây là cơ sở để thiết kế chính sách phù hợp với cách việc làm đang vận hành, thay vì buộc lao động nền tảng phải thích nghi với một mô hình an sinh được xây dựng chủ yếu cho người làm công ăn lương ổn định.
Các nền tảng cũng cần công bố dữ liệu tách theo giới về số người hoạt động, loại công việc, giờ làm, thu nhập, chi phí, mức độ tham gia bảo hiểm và tỷ lệ rời bỏ công việc. Nếu không có những dữ liệu này, thị trường chỉ nhìn thấy số lượt giao dịch mà không biết phụ nữ và nam giới đang nhận được cơ hội, thu nhập và mức độ bảo vệ khác nhau ra sao.
Ứng dụng có thể giúp một người tìm được việc nhanh hơn. Nhưng để công nghệ thực sự mở rộng cơ hội, điều cần thay đổi không chỉ là cách đặt việc trên màn hình, mà còn là những điều kiện quyết định ai có thể làm nghề nào và họ được bảo vệ thế nào trong suốt thời gian làm việc.


















Lao động chăm sóc không lương: Gánh nặng vô hình của phụ nữ
Khoảng cách tiền lương đẩy phụ nữ vào bất lợi nghề nghiệp
TP.HCM siết xe xăng: Tài xế công nghệ lo thất nghiệp
Cùng chuyên mục
Một phần năm nhân lực ngành năng lượng Việt Nam là phụ nữ
Trên ứng dụng, đàn ông chạy xe, phụ nữ nhận việc nhà
Những khoảng trống trong chăm sóc nữ phạm nhân
Dòng tiền số thêm căn cứ xét vay cho phụ nữ kinh doanh
Khi nghiên cứu y khoa không còn xem nam giới là chuẩn mặc định
Dữ liệu chăm sóc giúp quy hoạch đô thị sát đời sống phụ nữ