![]() |
| Cô và trẻ Trường Mầm non 3-2, TP Nha Trang trong một hoạt động tại lớp. Dịch vụ mầm non ổn định giúp trẻ được học tập, chăm sóc và hỗ trợ cha mẹ duy trì công việc. Ảnh: Báo Khánh Hòa. |
Ngày 11/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 353/2026/NĐ-CP quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/11/2026. Đối tượng phổ cập là trẻ từ 5 đến 6 tuổi chưa hoàn thành chương trình giáo dục mầm non.
Quyền được đến trường của trẻ là mục tiêu trực tiếp của chính sách. Nhưng nhìn từ đời sống gia đình, một chỗ học ổn định còn liên quan đến câu hỏi rất thực tế: trong khoảng thời gian trẻ ở trường, cha mẹ có thể yên tâm đi làm hay vẫn phải liên tục xoay xở việc đưa đón, trông giữ?
Ở đây, tác động giữa phụ nữ và nam giới không nhất thiết giống nhau. UN Women cho biết phụ nữ Việt Nam hiện dành thời gian cho công việc chăm sóc không lương nhiều gấp khoảng 2,5 lần nam giới. Khi trách nhiệm chăm sóc trong gia đình chưa được chia đều, sự thiếu hụt dịch vụ trông trẻ có nguy cơ lấy đi thời gian học tập, làm việc và nâng cao kỹ năng của phụ nữ nhiều hơn.
Một chính sách giáo dục có thể chạm tới việc làm
Nghị định 353 quy định Nhà nước ưu tiên đầu tư, bảo đảm các điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5–6 tuổi. Trẻ thuộc đối tượng phổ cập được hưởng chính sách miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và các chính sách liên quan theo pháp luật hiện hành.
Nhưng miễn hoặc hỗ trợ chi phí mới giải quyết một phần khả năng tiếp cận. Với gia đình có cả cha và mẹ đi làm, điều họ cần còn là một nơi học đủ an toàn, ổn định và có thời gian chăm sóc phù hợp với nhịp lao động.
Nghiên cứu của IFC về hỗ trợ chăm sóc trẻ tại doanh nghiệp ở Việt Nam cho thấy dịch vụ chăm sóc trẻ có liên hệ trực tiếp với khả năng tuyển dụng, giữ chân người lao động và giảm tình trạng nghỉ việc. Nghiên cứu cũng chỉ ra trách nhiệm chăm sóc là một rào cản đối với việc làm của phụ nữ và các gia đình có dịch vụ chăm sóc trẻ thuận lợi có khả năng kết hợp công việc với việc nuôi con tốt hơn.
Điều này đặc biệt đáng lưu ý ở những khu vực tập trung công nhân hoặc người lao động làm theo ca. Tại Tây Ninh, một dự án nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ ở địa bàn có khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hỗ trợ các cơ sở mầm non độc lập tư thục; khoảng 7.000 trẻ được ước tính hưởng lợi từ các hoạt động của dự án. Các lớp tập huấn năm 2026 cũng được tổ chức linh hoạt để phù hợp với đặc thù làm việc theo ca.
![]() |
| Một tiết học của cô và trẻ tại Trường Mầm non Họa My, huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa. Khả năng tiếp cận trường lớp ở những địa bàn khó khăn là một phần quan trọng của phổ cập giáo dục mầm non. Ảnh: Báo Dân tộc và Phát triển. |
Nghị định 353 không phải văn bản quy định cụ thể giờ mở cửa trường, chế độ bán trú hay giờ đón trả trẻ. Vì thế, không nên mặc nhiên cho rằng phổ cập sẽ tự động giải quyết bài toán việc làm của phụ huynh. Muốn lợi ích ấy xuất hiện, cách tổ chức dịch vụ ở từng địa phương vẫn là khâu quyết định.
Không để việc chăm con mặc nhiên trở thành phần việc của mẹ
Một trường mầm non thuận tiện có thể giảm thời gian một gia đình phải dành cho việc trông trẻ trong giờ làm. Nhưng bình đẳng giới chưa thể hình thành nếu toàn bộ những việc còn lại — đưa đón, chuẩn bị đồ dùng, theo dõi sức khỏe, nghỉ làm khi con ốm hay trao đổi với giáo viên — vẫn mặc nhiên được giao cho người mẹ.
Vì thế, chính sách mầm non và cách nhà trường phối hợp với gia đình cần nhìn cha và mẹ như những người có trách nhiệm ngang nhau. Thông báo của trường không nên mặc định người liên hệ là mẹ; họp phụ huynh, đưa đón và các hoạt động chăm sóc cũng cần tạo điều kiện để người cha tham gia thực chất.
Đây không phải chuyện thay đổi vài cách xưng hô. Khi nhà trường, doanh nghiệp và chính gia đình đều nhìn chăm sóc trẻ là trách nhiệm chung, phụ nữ mới có thêm khả năng giữ một công việc ổn định, nhận ca làm phù hợp với năng lực hoặc theo đuổi cơ hội nghề nghiệp mà trước đó họ có thể phải từ chối.
4 câu hỏi nên theo dõi khi triển khai phổ cập mầm non
1. Trẻ thuộc gia đình công nhân, lao động di cư và khu vực khó khăn có thực sự tiếp cận được trường lớp hay không?
2. Khoảng cách từ nhà tới trường, bán trú và giờ đón trả trẻ có phù hợp với thời gian làm việc của cha mẹ?
3. Cha và mẹ có cùng tham gia đưa đón, trao đổi với nhà trường và chăm con khi trẻ nghỉ học hay trách nhiệm vẫn chủ yếu thuộc về phụ nữ?
4. Việc đánh giá chính sách có xem xét những nhóm trẻ dễ bị bỏ lại, gồm trẻ khuyết tật và trẻ ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn?
Đừng chỉ đo chính sách bằng số trẻ đến lớp
Nghị định đặt ra các tiêu chuẩn để công nhận địa phương đạt chuẩn phổ cập, trong đó có tỷ lệ huy động trẻ đến lớp và tỷ lệ hoàn thành chương trình. Đây là những chỉ số cần thiết để quản lý giáo dục.
Tuy nhiên, nếu muốn nhìn tác động rộng hơn của chính sách, địa phương có thể theo dõi thêm chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận thực tế. Một xã đạt tỷ lệ huy động cao nhưng phụ huynh vẫn phải nghỉ việc giữa ngày vì không có bán trú sẽ cho thấy một phần nhu cầu của gia đình chưa được giải quyết.
![]() |
| Hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non tại địa bàn có khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở Tây Ninh. Dịch vụ chăm sóc ổn định đặc biệt có ý nghĩa với những gia đình làm việc theo ca. Ảnh: Báo Tây Ninh. |
Vùng miền núi, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, khu công nghiệp và những nơi dân cư biến động nhanh càng cần được quan sát riêng. Những nơi này có thể gặp những bài toán rất khác nhau: khoảng cách đến trường, thiếu giáo viên, điều kiện ăn bán trú, lớp mầm non tư thục độc lập hoặc giờ làm theo ca của phụ huynh.
Báo Dân tộc và Phát triển từng ghi nhận tại Khánh Hòa, chính sách mầm non phải xử lý đồng thời nhiều vấn đề từ hỗ trợ bữa ăn, cơ sở vật chất cho tới trẻ là con công nhân tại khu công nghiệp và trẻ ở vùng đặc biệt khó khăn. Ví dụ này cho thấy phổ cập thực chất đòi hỏi nhiều hơn việc có đủ tên trẻ trong danh sách đến lớp.
Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5–6 tuổi trước hết bảo đảm quyền học tập của trẻ. Nhưng khi trường lớp, chăm sóc và cách tổ chức dịch vụ phù hợp hơn với đời sống của người lao động, cha mẹ cũng có thêm khả năng duy trì công việc.
Với phụ nữ, ý nghĩa này càng rõ khi họ vẫn đang dành nhiều thời gian hơn nam giới cho chăm sóc không lương. Vì vậy, hiệu quả của chính sách không nên dừng ở câu hỏi có bao nhiêu trẻ đã đến lớp. Một câu hỏi khác cũng đáng được đặt ra: sau khi trẻ có một chỗ học ổn định, cha và mẹ có thực sự có thêm quyền lựa chọn cách học tập, làm việc và phát triển nghề nghiệp hay chưa?





















Từ ngày 01/11/2026, trẻ em 5-6 tuổi thuộc đối tượng này được ưu tiên miễn giảm, hỗ trợ 1 loại chi phí
Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ trong bối cảnh chuyển đổi số
Tiếp cận văn hóa cần công bằng hơn giữa phụ nữ và nam giới
Cùng chuyên mục
Hai Bộ phản hồi về đề xuất giảm tuổi nghỉ hưu của nữ giáo viên xuống 55
Tầm soát ung thư ở phụ nữ từ nay được theo dõi hằng năm
Phổ cập mầm non 5 tuổi, thêm cơ hội để cha mẹ yên tâm đi làm
Nhận con nuôi dưới 6 tháng, cha cũng có thể nghỉ chăm con
Sinh con không nên khép lại sự nghiệp của nữ vận động viên
Không phải mọi phụ nữ đều được ưu tiên mua nhà ở xã hội