Từ ngày 15/8/2026, Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP về phát triển công dân số có hiệu lực. Người đáp ứng các điều kiện về tài khoản định danh điện tử, tích hợp thông tin trên VNeID và thực hiện những thủ tục thuộc diện áp dụng có thể được miễn, giảm phí, lệ phí. Người cao tuổi cùng một số nhóm khác nếu đồng thời thuộc diện được hưởng chính sách khuyến khích theo pháp luật sẽ được áp dụng mức ưu đãi cao nhất.
VNeID cũng được mở rộng vai trò, từ định danh và xác thực điện tử sang hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, nộp hồ sơ, sử dụng chữ ký số và liên kết các phương thức thanh toán. Khi nhiều thủ tục có thể được giải quyết trên môi trường số, người dân có cơ hội giảm thời gian đi lại và chờ đợi. Nhưng khả năng hưởng lợi từ những tiện ích đó còn phụ thuộc vào việc mỗi nhóm dân cư có thực sự vào được hệ thống, hiểu cách sử dụng và tự hoàn tất thủ tục hay không.
![]() |
| Cán bộ tại phường Bình Quới, TP.HCM hướng dẫn người cao tuổi sử dụng ứng dụng trên điện thoại tại khu dân cư. Ảnh: Thái Phương/Cổng Thông tin điện tử Thành ủy TP.HCM. |
Số liệu giới mới nhất cho thấy đây là câu hỏi đáng lưu ý đối với phụ nữ ở những nhóm tuổi cao hơn. Trong số liệu năm 2024 được Cục Thống kê công bố tháng 5/2026, 90% nam giới sử dụng internet, trong khi tỷ lệ ở nữ là 84,4%. Khoảng cách rộng hơn rõ rệt ở nhóm từ 50 tuổi trở lên, khi tỷ lệ của nam là 78,6% còn nữ là 67,6%, chênh 11 điểm phần trăm.
Khoảng cách rộng hơn ở nhóm tuổi cao
Nhóm từ 50 tuổi trở lên trong thống kê không đồng nhất với khái niệm người cao tuổi trong chính sách. Con số này bao gồm cả những người chưa bước vào tuổi cao tuổi theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc chênh lệch giữa nữ và nam tăng rõ ở nhóm tuổi này vẫn cho thấy một vấn đề cần được theo dõi khi các dịch vụ thiết yếu ngày càng chuyển lên môi trường số.
Tỷ lệ sử dụng internet cũng không thể được dùng thay cho tỷ lệ biết sử dụng VNeID hay khả năng hoàn thành thủ tục hành chính trực tuyến. Một người thường xuyên vào mạng vẫn có thể gặp khó ở bước xác thực, tích hợp giấy tờ, ký số hoặc thanh toán. Ngược lại, một người ít sử dụng internet vẫn có thể hoàn tất thủ tục khi được hướng dẫn phù hợp. Vì vậy, số liệu 67,6% và 78,6% chỉ phản ánh khoảng cách về sử dụng internet, không chứng minh nguyên nhân và cũng không cho phép kết luận rằng phụ nữ lớn tuổi mặc nhiên gặp khó với mọi dịch vụ công số.
![]() |
| Các học viên lớn tuổi tham gia lớp “Bình dân học vụ số” tại TP.HCM. Những lớp học trực tiếp là một cách hỗ trợ người dân làm quen với VNeID và các dịch vụ số. Ảnh: Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. |
Điều mà số liệu đặt ra là nhu cầu đo lường chi tiết hơn. Khi một chính sách gắn quyền lợi với hoạt động trên môi trường số, ngoài tổng số tài khoản hay hồ sơ trực tuyến, dữ liệu thực thi có thể cho biết phụ nữ và nam giới ở các nhóm tuổi khác nhau tiếp cận dịch vụ ra sao. Chẳng hạn, bao nhiêu người phải nhờ hỗ trợ để kích hoạt hoặc sử dụng tài khoản, bao nhiêu hồ sơ được hoàn tất, bao nhiêu trường hợp dừng giữa quy trình và vướng mắc xuất hiện ở bước nào.
Nếu không có dữ liệu tách theo giới và tuổi, một chỉ số tăng về số hồ sơ trực tuyến vẫn chưa đủ để biết các nhóm dân cư có hưởng lợi tương đương nhau hay không. Đây là khác biệt giữa việc đo mức độ số hóa của cơ quan hành chính và đo khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.
Ưu đãi chỉ có ý nghĩa khi người dân tiếp cận được
Nghị quyết 66.22 đặt người cao tuổi trong nhóm được hưởng mức ưu đãi cao nhất khi đồng thời đủ điều kiện của các chính sách khuyến khích khác. Văn bản cũng quy định việc áp dụng chính sách khuyến khích không được làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong lựa chọn phương thức tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công.
Quy định này đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi số. Miễn hoặc giảm một khoản phí có thể tạo động lực để người dân sử dụng dịch vụ trực tuyến, nhưng nếu quy trình khiến một bộ phận phải phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu, cán bộ hoặc người khác để đăng nhập, xác thực và thao tác thì lợi ích thực tế sẽ không chỉ được quyết định bởi mức phí.
Thực tế tại TP.HCM cho thấy một số địa phương đã đưa hỗ trợ đến gần người cao tuổi hơn. Có nơi cán bộ đến tận nhà tiếp nhận hồ sơ đối với người cao tuổi, người khuyết tật và người khó đi lại. Phường Bình Quới còn tổ chức các điểm truy cập số tại khu dân cư vào buổi tối, nơi người dân được hướng dẫn cài đặt ứng dụng và thực hiện thủ tục trực tuyến. Những cách làm này chưa phải bằng chứng về tác động riêng đối với phụ nữ, nhưng cho thấy dịch vụ công số không nhất thiết chỉ được triển khai theo mô hình người dân tự xoay xở trước màn hình.
![]() |
| Hai phụ nữ tại Việt Nam cùng sử dụng điện thoại thông minh. Ảnh minh họa. Ảnh: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Với phụ nữ lớn tuổi, phần cần kiểm chứng tiếp theo là họ có sử dụng những kênh hỗ trợ như vậy nhiều hay ít hơn nam giới, loại thủ tục nào thường phải nhờ người khác thao tác và việc hỗ trợ có giúp họ tự thực hiện ở lần sau hay không. Không có dữ liệu này thì không nên suy ra rằng một mô hình phục vụ người cao tuổi đương nhiên đã thu hẹp khoảng cách giới.
Theo dõi cả quá trình hoàn tất thủ tục
Một hệ thống dịch vụ công thân thiện với các nhóm có mức sử dụng công nghệ khác nhau không nhất thiết phải tạo ra một quy trình riêng cho phụ nữ. Điều cần thiết trước tiên là nhận biết nơi nào trong quy trình đang tạo ra khoảng cách. Nếu vướng mắc nằm ở kích hoạt tài khoản, cách hỗ trợ sẽ khác với trường hợp người dùng không hiểu biểu mẫu, không thao tác được chữ ký số hoặc gặp khó ở khâu thanh toán.
Các điểm hỗ trợ trực tiếp, dịch vụ lưu động và hướng dẫn tại khu dân cư có thể là một phần của cách giải quyết. Giao diện dễ đọc, hướng dẫn bằng ngôn ngữ rõ ràng và cơ chế trợ giúp khi người dùng gặp lỗi cũng có ý nghĩa tương tự. Với những thủ tục liên quan dữ liệu cá nhân, tài chính hay an sinh, việc hỗ trợ còn cần bảo đảm người sử dụng hiểu mình đang xác nhận điều gì thay vì chỉ giao điện thoại và thông tin tài khoản cho người khác thao tác.
Đây cũng là lý do việc đo kết quả nên đi xa hơn số lượt được hướng dẫn. Nếu dữ liệu chỉ ghi nhận một người đã đến điểm hỗ trợ, chưa thể biết thủ tục có được hoàn thành hay người đó có thể tự sử dụng dịch vụ trong lần tiếp theo. Những chỉ số về tỷ lệ hoàn tất, thời gian thực hiện, nhu cầu hỗ trợ và các bước thường phát sinh lỗi, nếu được phân tích theo giới và nhóm tuổi phù hợp, sẽ cung cấp căn cứ thực tế hơn cho việc điều chỉnh cách phục vụ.
Khoảng cách 11 điểm phần trăm về sử dụng internet ở nhóm từ 50 tuổi trở lên không phải bằng chứng rằng mọi phụ nữ lớn tuổi đều yếu về công nghệ. Nó là tín hiệu cho thấy một chính sách ngày càng dựa nhiều vào nền tảng số cần quan sát kỹ hơn sự khác biệt trong khả năng tiếp cận. Khi quyền lợi đã được đưa lên VNeID, câu hỏi tiếp theo không chỉ là có bao nhiêu dịch vụ được số hóa mà còn là phụ nữ và nam giới ở những độ tuổi khác nhau có thực sự sử dụng được những dịch vụ ấy hay không.


















Tất cả người dùng VNeID chú ý quy định mới chính thức áp dụng từ ngày 15/8
Lá chắn số cho phụ nữ: Biết dùng AI, biết tự bảo vệ mình
PGS.TS. Bùi Thị An: Cần tăng tỷ lệ nữ tham gia hoạch định chính sách và phát huy nguồn lực phụ nữ cao tuổi
Cùng chuyên mục
Bình đẳng giới được tính thế nào khi xét Gia đình văn hóa?
Phụ nữ lớn tuổi và khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ số
Nữ nông dân không nên đứng ngoài chuyện quản lý nước
Trước ngày trở về, phạm nhân nữ cần được nối tới việc làm
Thu hồi đất nông nghiệp, quyền hỗ trợ tính theo điều gì?
Công khai tuyển dụng, phụ nữ có thêm cơ hội việc làm?