![]() |
| Hai kỹ sư trao đổi tại công trường. Đánh giá an toàn cần dựa vào năng lực, điều kiện công việc và nguy cơ thực tế thay vì giới tính. Ảnh minh họa: Mikael Blomkvist/Pexels. |
Một người lao động bước vào công trường với mũ bảo hộ, áo phản quang và cùng điều kiện làm việc như đồng nghiệp. Về nguyên tắc, đánh giá an toàn phải bắt đầu từ nguy cơ thực tế: vị trí đứng, máy móc, vật liệu, độ cao, quy trình và cách người đó thực hiện công việc.
Nhưng giới tính của người lao động có thể âm thầm chen vào cách người khác nhìn một tình huống.
Một nghiên cứu công bố trên Journal of Safety Research tháng 6/2026 đưa ra kết quả đáng suy nghĩ: trong thử nghiệm với 70 lao động xây dựng, những người tham gia là nữ nhận diện được nguy cơ tốt hơn nhóm nam. Trong khi đó, một phân tích bổ sung lại cho thấy người tham gia nam đánh giá những hình ảnh có lao động nữ là rủi ro hơn.
Kết quả này không chứng minh phụ nữ bẩm sinh làm việc an toàn hơn, càng không đủ để kết luận nam giới thường đánh giá sai phụ nữ. Nó đặt ra một câu hỏi hẹp hơn nhưng thiết thực: khi năng lực an toàn được đánh giá, chúng ta đang nhìn vào bằng chứng hay vẫn để hình dung sẵn có về nữ và nam tác động đến phán đoán?
Nhìn thấy phụ nữ không làm nguy cơ tự thay đổi
Nhóm Mostafa Namian, Samuel Oluwadamilare Olatunbosun, Alex Albert và Helen Lingard cho 70 lao động xây dựng xem những hình ảnh tĩnh về các tình huống thực tế trên công trường. Giới tính của người lao động xuất hiện trong ảnh được thay đổi có hệ thống. Người tham gia phải nhận diện nguy cơ, đánh giá mức rủi ro và trả lời các câu hỏi về giới và an toàn.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhận diện nguy cơ trung bình của người tham gia nữ đạt 35,80%, so với 28,45% ở người tham gia nam. Chênh lệch có ý nghĩa thống kê với p=0,007 và mức hiệu ứng Cohen's d=0,65. Tuy nhiên, giới tính của nhân vật xuất hiện trong ảnh không làm thay đổi đáng kể khả năng nhận diện nguy cơ của người quan sát.
Với cảm nhận rủi ro, phân tích mô hình hỗn hợp không phát hiện khác biệt giới tổng thể. Chỉ ở phân tích phi tham số bổ sung, nhóm nam mới đánh giá các hình có lao động nữ rủi ro cao hơn các hình có lao động nam, với mức chênh lệch có ý nghĩa thống kê. Chính các tác giả gọi đây là dấu hiệu của thiên lệch phụ thuộc bối cảnh ở người quan sát, chứ không phải bằng chứng rằng lao động nữ thực sự tạo ra nhiều nguy cơ hơn.
Điểm này rất quan trọng. Nếu chỉ lấy một con số rồi kết luận “phụ nữ an toàn hơn đàn ông”, bài toán bình đẳng giới lại rơi vào một định kiến mới. Nghiên cứu có mẫu nhỏ, thực hiện với hình ảnh tĩnh và chính nhóm tác giả thừa nhận cách thử nghiệm này hạn chế mức độ phản ánh môi trường công trường động, phức tạp ngoài đời.
![]() |
| Hai phụ nữ làm việc trong một lò gạch truyền thống tại Việt Nam. Năng lực an toàn cần được đánh giá theo công việc và điều kiện thực tế của từng người. Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Một nghiên cứu không thể đại diện cho toàn bộ ngành xây dựng, càng không thể dùng dữ liệu tại Mỹ để khẳng định điều gì đang xảy ra tại Việt Nam. Nhưng nó giúp tách hai vấn đề vốn dễ bị nhập làm một: nguy cơ thực sự của công việc và cách người khác đánh giá năng lực của người thực hiện.
Phụ Nữ Mới trước đó đã phân tích một rào cản rất cụ thể là đồ bảo hộ vừa vặn với lao động nữ. Kích cỡ găng tay, dây đai hay trang phục bảo hộ là vấn đề có thể đo, thử và điều chỉnh. Định kiến trong đánh giá khó nhìn thấy hơn, nhưng nếu tồn tại, nó cũng có thể ảnh hưởng đến cơ hội được giao việc, đào tạo hoặc phát triển nghề nghiệp.
Muốn bảo vệ phụ nữ không có nghĩa là mặc định họ yếu hơn
Định kiến giới trong nghề nghiệp không nhất thiết luôn xuất hiện dưới dạng coi thường hoặc từ chối thẳng. Nó cũng có thể khoác áo “bảo vệ”.
Nếu một người quản lý mặc định lao động nữ khó đảm nhiệm công việc có rủi ro, phụ nữ có thể được chuyển khỏi một số nhiệm vụ trước khi năng lực cá nhân được đánh giá. Điều đó có vẻ thận trọng về an toàn, nhưng nếu quyết định dựa chủ yếu vào giới tính thay vì sức khỏe, kỹ năng, đào tạo và điều kiện công việc, hệ quả có thể là phụ nữ ít cơ hội tích lũy kinh nghiệm ở các vị trí kỹ thuật hoặc quản lý hiện trường.
Đây là cơ chế cần kiểm chứng trong từng doanh nghiệp, không phải kết luận trực tiếp của nghiên cứu trên.
Một nghiên cứu khác của Namian và cộng sự, công bố trực tuyến tháng 8/2026 trên Journal of Construction Engineering and Management, lại cung cấp một mảnh ghép đáng chú ý. Bảy mươi lao động ở 22 công trường tại Mỹ được yêu cầu đánh giá các hồ sơ ứng viên đã ghép cặp về trình độ. Khi quy trình đánh giá được cấu trúc và năng lực được giữ tương đương, giới tính ứng viên không tạo khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định tuyển dụng; cũng không xuất hiện chênh lệch tổng thể về mức lương đề xuất cho ứng viên nam và nữ.
Điều đó không chứng minh ngành xây dựng đã hết định kiến. Chính nghiên cứu vẫn ghi nhận khác biệt liên quan đến người đánh giá và thái độ giới. Nhưng kết quả gợi ra một hướng xử lý có giá trị: càng làm rõ tiêu chí và bằng chứng phải dùng khi ra quyết định, càng có ít khoảng trống để trực giác về giới chi phối.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với câu chuyện tín hiệu giới ngay từ tin tuyển dụng mà Phụ Nữ Mới vừa phân tích: khoảng cách nghề nghiệp có thể hình thành trước khi một phụ nữ hay nam giới thực sự được kiểm tra năng lực.
![]() |
| Công nhân trao đổi tại một công trường ở Cần Thơ. Tiêu chuẩn an toàn cần được áp dụng bằng cùng hệ tiêu chí đối với lao động nữ và nam. Ảnh minh họa: Dương Phước Tiến/Pexels. |
An toàn phải được đo bằng năng lực và hành vi
Ở Việt Nam, Điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định nam và nữ được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm và điều kiện lao động. Luật cũng đặt ra yêu cầu tạo điều kiện về vệ sinh, an toàn lao động cho lao động nữ làm một số nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc chất độc hại.
Trong khi đó, Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định người lao động có quyền được bảo đảm điều kiện làm việc công bằng, an toàn và vệ sinh lao động. Trọng tâm của hệ thống an toàn vì thế phải là nhận diện, phòng ngừa và kiểm soát yếu tố nguy hiểm, chứ không phải lấy giới tính làm một phép đo thay thế cho năng lực cá nhân.
Với công trường, điều này có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể. Khi đánh giá khả năng đảm nhận một nhiệm vụ, doanh nghiệp cần xác định trước các tiêu chí như chứng chỉ, kinh nghiệm, sức khỏe phù hợp, khả năng nhận diện nguy cơ, tuân thủ quy trình và kết quả đào tạo. Người quản lý phải giải thích quyết định bằng các tiêu chí đó, thay vì các nhận xét khó kiểm chứng như “công việc này hợp với đàn ông hơn” hay “phụ nữ làm sẽ nguy hiểm”.
Các bài kiểm tra tình huống an toàn cũng có thể được chuẩn hóa. Thay vì hỏi người quản lý cảm thấy ai “cứng nghề”, doanh nghiệp có thể đưa cùng tình huống cho các lao động, đo số nguy cơ họ nhận ra, cách họ đề xuất kiểm soát rủi ro và việc họ có tuân thủ trình tự an toàn hay không.
Một lớp kiểm tra khác là dữ liệu phân tách theo giới: ai được cử đi đào tạo, ai được giao nhiệm vụ kỹ thuật, ai được nâng bậc, ai bị loại khỏi một công việc vì lý do an toàn và căn cứ loại là gì. Nếu phụ nữ thường xuyên bị loại dù kết quả đào tạo và năng lực tương đương, doanh nghiệp có cơ sở để xem lại cách ra quyết định. Nếu dữ liệu không cho thấy khác biệt, cũng không nên cố gán bất bình đẳng giới nơi chưa có bằng chứng.
Điều tương tự áp dụng với nam giới. Kết quả một nghiên cứu cho thấy nhóm nữ nhận diện nguy cơ tốt hơn không phải lý do để mặc định lao động nam bất cẩn hoặc ít ý thức an toàn. Bình đẳng giới không phải thay một khuôn mẫu bằng khuôn mẫu đối nghịch, mà là giảm vai trò của khuôn mẫu trong những quyết định lẽ ra phải dựa trên năng lực.
Trên một công trường, nguy cơ là thật và tiêu chuẩn an toàn không thể hạ thấp vì bất kỳ mục tiêu bình đẳng nào. Nhưng chính vì an toàn là vấn đề nghiêm túc, đánh giá người lao động càng cần chính xác. Một phụ nữ không nên được giao công việc chỉ để đủ tỷ lệ giới; cô ấy cũng không nên bị loại chỉ vì người khác hình dung công việc đó phù hợp với đàn ông hơn.
An toàn tốt nhất khi doanh nghiệp biết người nào làm được việc gì, với điều kiện nào và dựa trên bằng chứng nào. Giới tính không nên được dùng để trả lời thay ba câu hỏi đó.
Nghiên cứu năm 2026 nói gì và không nói gì?
- Nghiên cứu Journal of Safety Research có 70 lao động xây dựng, sử dụng ảnh tĩnh về các tình huống công trường.
- Nhóm nữ trong mẫu nhận diện nguy cơ trung bình tốt hơn nhóm nam: 35,80% so với 28,45%.
- Giới tính của người xuất hiện trong ảnh không làm thay đổi đáng kể khả năng nhận diện nguy cơ. Một phân tích bổ sung cho thấy nam giới đánh giá ảnh có lao động nữ rủi ro cao hơn.
- Kết quả không chứng minh phụ nữ bẩm sinh an toàn hơn, không đại diện cho mọi công trường và không phải bằng chứng trực tiếp về lao động xây dựng tại Việt Nam.




















Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn
Tin tuyển dụng đang “gọi” nam hay nữ vào từng công việc?
Người nhận việc về nhà làm cũng cần được bảo vệ an toàn
Ưu đãi nhà thầu có lao động nữ cần được đo trước khi sửa luật
Cùng chuyên mục
Sân chơi tuổi teen có vô tình dành nhiều chỗ hơn cho con trai?
Phụ nữ có thường bị ngắt lời hơn nam giới trong cuộc họp?
Đi làm, đón con, ghé chợ và những chặng đường ít được tính
Phụ nữ trên công trường không nên bị đánh giá bằng định kiến
Đánh giá “tiềm năng” có thể nới rộng khoảng cách thăng tiến
Tin tuyển dụng đang “gọi” nam hay nữ vào từng công việc?