Trong lịch sử nhân loại, mỗi bước tiến vĩ đại của xã hội đều gắn với những đột phá về khoa học và công nghệ. Ngày nay, thế giới đang bước vào kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, sinh học tổng hợp và y học chính xác. Chúng ta đang sống trong thời đại của năng lượng xanh, công nghệ bền vững, của nền kinh tế số và địa chính trị công nghệ. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) hơn bao giờ hết chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh toàn cầu của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia chính là động lực then chốt để thực hiện mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đây không chỉ là mục tiêu về kinh tế mà còn là khát vọng tự cường của dân tộc trong thế kỷ XXI. Để hiện thực hóa khát vọng đó, chúng ta cần phát huy tối đa nguồn lực con người về cả trí tuệ, năng lực sáng tạo và tư duy đổi mới, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực STEM. Trong nguồn lực ấy, phụ nữ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là lực lượng lao động tiên phong, vừa là nhân tố thúc đẩy sự đổi mới mang tính bền vững và nhân văn. Sự tham gia ngày càng sâu rộng của lực lượng lao động nữ trong lĩnh vực STEM chính là chìa khóa để kiến tạo một nền kinh tế tri thức toàn diện, bình đẳng và bứt phá.
![]() |
| Những đóng góp mang tính bước ngoặt của phụ nữ trong lĩnh vực STEM tại Việt Nam được minh chứng sinh động và thuyết phục qua các thế hệ 'bóng hồng' kiên cường trên mặt trận khoa học. |
Trong tiến trình phát triển và hội nhập sâu rộng của nền khoa học - công nghệ toàn cầu, phụ nữ Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới sáng tạo của đất nước. Từ nghiên cứu hàn lâm đến triển khai các giải pháp ứng dụng phục vụ đời sống và an sinh xã hội, đội ngũ nữ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học và công nghệ.
Những đóng góp mang tính bước ngoặt của phụ nữ trong lĩnh vực STEM tại Việt Nam được minh chứng sinh động và thuyết phục qua các thế hệ 'bóng hồng' kiên cường trên mặt trận khoa học. Thế hệ gạo cội tiêu biểu phải kể đến GS. TS Huỳnh Thị Phương Liên, một tượng đài của nền y học dự phòng nước nhà. Công trình nghiên cứu và sản xuất thành công vắc-xin viêm não Nhật Bản của bà là một kỳ tích y học, cứu sống và bảo vệ sức khỏe cho hàng triệu trẻ em qua nhiều thế hệ. PGS. TS Nguyễn Thị Trâm đã cống hiến cả sự nghiệp để mở đường cho những giống lúa lai đột phá được chuyển giao với giá trị kỷ lục, mang lại hiệu quả kinh tế khổng lồ và trực tiếp nâng cao sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân. GS. TS Hoàng Xuân Sính, nữ giáo sư toán học đầu tiên của Việt Nam – không chỉ để lại dấu ấn quốc tế với công trình xây dựng lý thuyết Gr-phạm trù, mà còn mở lối cho giáo dục đại học tư thục khi đồng sáng lập Trường Đại học Thăng Long. GS.TS Phan Thị Tươi, nữ hiệu trưởng duy nhất của một trường đại học kỹ thuật lớn - Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, đã đi vào lịch sử với tư cách là nữ Giáo sư đầu tiên của ngành Công nghệ thông tin, người đã gieo những hạt giống ở giai đoạn đầu cho hệ thống đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao của nước nhà.
Thế hệ đương thời tiếp tục chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của nhiều nhà khoa học nữ tiêu biểu. Điển hình là GS. TS Nguyễn Thị Thanh Mai, nữ Giám đốc đầu tiên trong lịch sử Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS). Bà đã khẳng định dấu ấn sâu sắc trong lĩnh vực Hóa dược qua hành trình kiên trì nghiên cứu và thương mại hóa các sản phẩm bảo vệ sức khỏe từ nguồn dược liệu trong nước. GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, là người tiên phong trong các nghiên cứu vắc-xin thế hệ mới và bộ kit chẩn đoán nhanh các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi. Thành tựu của bà góp phần nâng cao vị thế của ngành Thú y Việt Nam trên trường quốc tế. GS. TS Huỳnh Thị Thanh Bình (Đại học Bách khoa Hà Nội), nữ giáo sư thứ hai của ngành Công nghệ thông tin đã có những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo và tối ưu hóa tính toán, khẳng định năng lực vượt trội của nữ trí thức Việt Nam trong kỷ nguyên số. GS.Ts Trần Thị Việt Nga (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) là nữ giáo sư duy nhất của ngành Xây dựng tại Việt Nam tính đến nay. Tên tuổi của bà gắn liền với các giải pháp công nghệ thực tiễn về an ninh nguồn nước, hạ tầng xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn.Thượng tá Lê Thị Hằng, người được mệnh danh là "cô gái tên lửa" của Việt Nam. Hiện tại, chị là Giám đốc Trung tâm C4 tại Viện Hàng không Vũ trụ Viettel. Chị Hằng cùng đội ngũ tại Viettel đã trực tiếp nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công các công nghệ lõi cho tên lửa, nổi bật là việc làm chủ công nghệ đầu tự dẫn (được ví như "đôi mắt" của tên lửa). Những thành tựu nghiên cứu này giúp Việt Nam bước đầu làm chủ hệ thống vũ khí công nghệ cao "Make in Vietnam", đặc biệt đóng góp vào việc phát triển các dòng tên lửa đất đối hải hiện đại.
Những gương mặt nêu trên là minh chứng đại diện cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam trong lĩnh vực STEM đã và đang cống hiến, tạo nên những chuyển dịch bứt phá cho sự phát triển khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học nước nhà.
Tuy nhiên, bức tranh tổng thể nhân lực nữ trong lĩnh vực STEM vẫn phản ánh những thách thức mang tính cấu trúc. Hiện nay, phụ nữ chỉ chiếm khoảng 37% lực lượng lao động STEM. Nhìn vào cơ cấu nguồn nhân lực, khoảng cách giới vẫn hiện hữu rõ rệt thông qua xu hướng sụt giảm nghiêm trọng của tỷ lệ nữ giới khi đi sâu vào các bậc học cao hơn, các vị trí lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách cấp chiến lược.
Thực tế tại các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng, tỷ lệ người học lựa chọn lĩnh vực STEM nhìn chung còn thấp, đặc biệt là nguồn tuyển nữ sinh trong các khối ngành công nghệ lõi và kỹ thuật chuyên sâu như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và bán dẫn. Sự thiếu hụt từ đầu vào này dẫn đến hệ quả tất yếu là tỷ lệ trí thức nữ sở hữu chức danh học thuật cao còn rất hạn chế. Số liệu thống kê qua các đợt xét công nhận chức danh Giáo sư tại Việt Nam đã phản ánh rõ nét thực trạng này. Giai đoạn vừa qua, dù số lượng Giáo sư được công nhận tăng thêm đáng kể nhưng tỷ lệ nữ giới chỉ chiếm khoảng 11%. Đặc biệt, đối với các ngành khoa học nền tảng và công nghệ cao, tỷ lệ này càng thấp. Minh chứng là trong tổng số hơn 100 giáo sư ngành Toán được công nhận trong lịch sử (bao gồm cả 4 giáo sư được công nhận đặc cách là Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Ngô Bảo Châu, Vũ Hà Văn), đến nay mới chỉ có 03 nữ giáo sư. Tương tự, tính đến thời điểm hiện tại, cả nước cũng mới chỉ ghi nhận 02 nữ giáo sư trong ngành Công nghệ thông tin và 01 nữ giáo sư trong ngành Xây dựng.
Sự thiếu hụt mang tính hệ thống từ ghế nhà trường lên đến đỉnh tháp học thuật xuất phát từ cấu trúc rào cản đa tầng. Tại giai đoạn định hướng, tâm lý e dè của nữ sinh đối với khối STEM bắt nguồn từ sự thiếu vắng các hình mẫu biểu tượng nữ thành công trên truyền thông và trong đời sống. Hệ quả là, các định kiến giới – coi toán học, công nghệ, kỹ thuật là đặc quyền của nam giới, tạo áp lực vô hình khiến trẻ em gái tự giới hạn năng lực tư duy logic của mình ngay từ khi chọn ngành. Tại giai đoạn phát triển, đây là thời kỳ các nhà khoa học nữ phải đối mặt với gánh nặng của "vai trò kép". Áp lực từ trách nhiệm gia đình, thiên chức làm mẹ thường rơi vào đúng giai đoạn vàng của sức sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Trong khi đó, môi trường làm việc, nghiên cứu chưa có cơ chế hỗ trợ linh hoạt, thân thiện giới để giúp họ giảm tải áp lực. Tại giai đoạn quyết sách, ở đỉnh tháp, phụ nữ chịu rào cản từ các định kiến cấu trúc trong công tác quy hoạch, đánh giá và bổ nhiệm. Tiêu chuẩn đánh giá năng lực quản lý đôi khi vẫn rập khuôn theo các tiêu chí định hình bởi nam giới. Sự thiếu hụt các cơ chế đặc thù, ưu tiên thích đáng trong hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực vĩ mô, khiến các nhà khoa học nữ có rất ít không gian để tiếp cận và khẳng định vai trò lãnh đạo chiến lược.
Trong bối cảnh hiện nay, giải quyết ba nút thắt trên không còn dừng lại ở câu chuyện an sinh xã hội đơn thuần, mà là bài toán chiến lược về kinh tế và vị thế quốc gia. Một quốc gia không thể tối ưu hóa sức mạnh đổi mới sáng tạo nếu bỏ trống một nửa nguồn lực trí tuệ của mình. Sự thiếu vắng góc nhìn của phụ nữ trong cấu trúc thiết kế và phát triển các công nghệ lõi này sẽ là một tổn thất không thể bù đắp cho nền kinh tế tri thức. Ngược lại, nếu kích hoạt thành công dòng chảy nhân lực nữ vào khoa học cơ bản và kỹ thuật chuyên sâu ngay từ sớm, Việt Nam sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh quốc gia vượt trội trên bản đồ số toàn cầu.
Để khơi thông dòng chảy này, biến tiềm năng của hàng triệu nữ sinh Việt Nam thành động lực phát triển đất nước hướng tới tầm nhìn 2045, chúng ta cần một giải pháp đồng bộ, trực tiếp tháo gỡ từng nút thắt nêu trên. Trước hết, cần tăng cường giáo dục STEM cho trẻ em gái ngay từ bậc phổ thông, khơi dậy niềm yêu thích khoa học và tư duy logic. Thứ hai, cần xây dựng mạng lưới cố vấn nữ STEM, kết nối các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nhân nữ với học sinh, sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ nhằm xóa bỏ định kiến giới, truyền cảm hứng về nghề nghiệp và những hình mẫu thành công. Thứ ba, cần có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng tài năng nữ trong các lĩnh vực khoa học công nghệ chiến lược. Thứ tư, cần xây dựng môi trường nghiên cứu và làm việc thân thiện hơn với phụ nữ; tạo điều kiện để phụ nữ có thể cân bằng giữa phát triển nghề nghiệp và cuộc sống gia đình. Thứ năm, cần tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Cuối cùng, cần nâng cấp ưu tiên trong hoạch định chính sách, đưa phát triển nguồn nhân lực nữ STEM thành một nội dung cốt lõi trong chiến lược quốc gia về khoa học công nghệ.
Nếu thế kỷ XX là thời đại của tài nguyên và vốn, thì thế kỷ XXI là thời đại của tri thức và sáng tạo. Vì vậy, quốc gia nào biết phát huy đầy đủ tiềm năng của phụ nữ sẽ có thêm một động lực quan trọng cho phát triển. Con đường hướng tới mục tiêu Việt Nam 2045 không thể thiếu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, và nền khoa học công nghệ nước nhà cũng không thể phát triển mạnh mẽ nếu thiếu sự tham gia toàn diện của phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam hôm nay và mai sau sẽ không chỉ là người tiếp nhận tri thức mà còn là người sáng tạo tri thức; không chỉ là người ứng dụng công nghệ mà còn là người tạo ra công nghệ; không chỉ tham gia vào sự phát triển của đất nước mà còn góp phần dẫn dắt sự phát triển ấy. Hãy trao cho phụ nữ niềm tin, cơ hội và những công cụ chính sách tương xứng. Khi tiềm năng nội tại được giải phóng bằng một cơ chế công bằng, thế hệ phụ nữ Việt Nam sẽ khẳng định năng lực bằng những kết quả cụ thể, định hình tương lai thịnh vượng và bền vững của quốc gia trên trường quốc tế.






















Đưa bình đẳng giới vào giảng dạy STEM từ các trường sư phạm
Phenikaa School vào Top 5% tổ chức STEM xuất sắc toàn cầu
Khi nữ sinh trở thành người dẫn dắt trong lĩnh vực STEM
Cô giáo Vàng Thị Dính - người "thắp lửa" STEM, Robot trên cao nguyên đá
Phá vỡ định kiến giới trong STEM: Hành trình của những phụ nữ chọn lối đi ít người dám bước
Lần đầu tiên Việt Nam thực nghiệm mô hình giáo dục STEM gắn với sở hữu trí tuệ theo chuẩn WIPO
Cùng chuyên mục
Phát triển nguồn nhân lực nữ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM)
Sở hữu trí tuệ “chìa khóa” đưa kết quả nghiên cứu của nữ khoa học ra thị trường
Tri thức – món quà lớn nhất dành cho phụ nữ
Hãy xem tri thức là món quà lớn nhất dành cho phụ nữ: Từ trao quyền tri thức đến phát triển bền vững trong kỷ nguyên số
Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Dược liệu Việt Nam: Giàu tiềm năng nhưng còn nhiều “nút thắt” trên hành trình vươn ra thị trường lớn