![]() |
| Một phụ nữ sử dụng điện thoại thông minh tại Đà Nẵng. Ảnh minh họa: Nhà văn/Pexels. |
Năm 2024, 69,9% phụ nữ Việt Nam từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại một tổ chức tài chính, so với 71,2% ở nam giới. Khoảng cách chỉ 1,3 điểm phần trăm. Ở một chỉ báo khác, 46,9% phụ nữ cho biết đã dùng điện thoại hoặc Internet để thanh toán hóa đơn, nhỉnh hơn mức 44% của nam giới. Những con số này không tạo ra một bức tranh trong đó phụ nữ luôn đứng sau nam giới khi sử dụng dịch vụ tài chính.
Ngay cả ở tiết kiệm, số liệu mô tả của Ngân hàng Thế giới cũng cần đọc thận trọng. Năm 2024, tỷ lệ phụ nữ cho biết đã tiết kiệm tại tổ chức tài chính hoặc thông qua tài khoản tiền di động là 46,5%, trong khi nam giới là 42,4%. Nếu chỉ nhìn vào hai tỷ lệ này, không có căn cứ để nói phụ nữ Việt đang ít tiết kiệm chính thức hơn nam giới.
Nhưng một nghiên cứu công bố ngày 3/6/2026 lại đặt câu hỏi khác. Hai tác giả Nguyễn Văn Ninh và Phan Thanh Huyền, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM, sử dụng vi dữ liệu Global Findex 2024 để xem khác biệt giới thay đổi ra sao từ sở hữu tài khoản, sử dụng thanh toán số đến tiết kiệm chính thức. Sau khi tính đến tuổi, học vấn, nhóm thu nhập, tình trạng việc làm và nơi cư trú, khác biệt giữa nữ và nam không đáng kể ở hai bước đầu, nhưng xuất hiện ở mô hình về tiết kiệm.
Một con số thô và một kết quả đã điều chỉnh
Mẫu phân tích của nghiên cứu gồm 998 người từ 15 tuổi trở lên sau khi loại những quan sát thiếu dữ liệu. Tác giả sử dụng trọng số khảo sát và ba mô hình hồi quy logistic. “Có tài khoản” được xác định khi người trả lời có tài khoản tại tổ chức tài chính hoặc tài khoản tiền di động; sử dụng thanh toán số là đã gửi hoặc nhận một khoản thanh toán số trong kỳ tham chiếu; còn tiết kiệm chính thức là đã tiết kiệm tại một tổ chức tài chính trong 12 tháng trước khảo sát.
Ở mô hình sở hữu tài khoản, biến nữ có tỷ số odds 1,02, khoảng tin cậy 95% từ 0,72 đến 1,44 và không có ý nghĩa thống kê. Với sử dụng thanh toán số, tỷ số này là 0,99, khoảng tin cậy 0,71–1,36, cũng không có ý nghĩa thống kê. Nói cách khác, khi những đặc điểm kinh tế - xã hội được đưa vào mô hình, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về khác biệt nữ - nam ở hai kết quả này.
Kết quả thay đổi ở tiết kiệm chính thức. Biến nữ có tỷ số odds 0,73, khoảng tin cậy 95% từ 0,55 đến 0,97, với p=0,032. Cách đọc chính xác là: sau khi giữ các biến được đưa vào mô hình ở mức tương đương, odds tiết kiệm chính thức của phụ nữ thấp hơn khoảng 27% so với nam giới trong mẫu nghiên cứu. Con số này không có nghĩa phụ nữ tiết kiệm ít hơn nam giới 27 điểm phần trăm, cũng không có nghĩa số tiền họ để dành thấp hơn 27%.
![]() |
| Thanh toán bằng điện thoại là một bước sử dụng dịch vụ tài chính số, khác với việc hình thành khoản tiết kiệm. Ảnh minh họa: Pavel Danilyuk/Pexels. |
Hai kết quả – tỷ lệ mô tả của Ngân hàng Thế giới cho thấy phụ nữ 46,5%, nam giới 42,4%, trong khi mô hình nghiên cứu cho tỷ số odds của phụ nữ là 0,73 – không nên được dùng để phủ định lẫn nhau. Trước hết, định nghĩa không hoàn toàn giống nhau: chỉ báo của hồ sơ Ngân hàng Thế giới gồm tiết kiệm tại tổ chức tài chính hoặc qua tài khoản tiền di động, còn nghiên cứu mã hóa tiết kiệm chính thức là tiết kiệm tại tổ chức tài chính trong 12 tháng trước khảo sát. Quan trọng hơn, tỷ lệ thô mô tả hai nhóm như họ thực tế tồn tại; hồi quy lại đặt câu hỏi điều gì còn lại sau khi đã điều chỉnh một số đặc điểm đo được.
Không đọc OR 0,73 thành “phụ nữ tiết kiệm kém hơn”
69,9% phụ nữ và 71,2% nam giới có tài khoản tại tổ chức tài chính trong dữ liệu năm 2024. Chỉ báo tiết kiệm của Ngân hàng Thế giới lần lượt là 46,5% và 42,4%. OR 0,73 đến từ một mô hình thống kê khác, với định nghĩa tiết kiệm và các biến điều chỉnh cụ thể. Ba con số trả lời những câu hỏi khác nhau; chúng không đo “khả năng quản lý tiền” hay số tiền một người tích lũy được.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng với một chủ đề dễ bị kéo thành những nhận xét về giới kiểu “phụ nữ giỏi tiết kiệm hơn” hoặc “phụ nữ khó giữ tiền hơn”. Dữ liệu hiện có không chứng minh những kết luận đó. Nghiên cứu là nghiên cứu cắt ngang, không theo dõi một người từ lúc mở tài khoản đến khi hình thành khoản tiết kiệm, vì vậy cũng không chứng minh việc mang giới tính nữ gây ra khả năng tiết kiệm thấp hơn. Chính nhóm tác giả xác nhận thiết kế nghiên cứu không cho phép suy luận quan hệ nhân quả.
Nhóm tác giả thảo luận khả năng chuẩn mực giới hoặc quyền thương lượng trong gia đình có thể liên quan tới quyết định tích lũy. Tuy nhiên, đây là hướng giải thích, không phải kết quả được đo trực tiếp: bộ dữ liệu không có biến quan sát trực tiếp quá trình thương lượng tiền bạc trong hộ hay các ràng buộc chuẩn mực. Vì vậy, chưa thể từ OR 0,73 đi tới kết luận rằng phụ nữ Việt ít tiết kiệm vì phải giao tiền cho gia đình hoặc thiếu quyền quyết định tài chính.
Có tài khoản chưa đồng nghĩa có cùng nguồn lực để dành
Điểm đáng chú ý hơn nằm ở vai trò của nguồn lực. Trong cả ba mô hình, học vấn và nhóm thu nhập đều có mối liên hệ dương và có ý nghĩa thống kê với mức tham gia tài chính. Người thuộc nhóm thu nhập cao hơn và có trình độ học vấn cao hơn có odds sở hữu tài khoản, dùng thanh toán số và tiết kiệm chính thức cao hơn các nhóm tham chiếu trong mô hình.
Điều này làm thay đổi cách đặt câu hỏi về tài chính toàn diện. Nếu chỉ đếm số tài khoản được mở, một phần khác biệt có thể biến mất khỏi tầm nhìn. Tương tự, kết nối số chưa tự động chuyển thành kết quả kinh tế; một người có điện thoại, Internet và tài khoản ngân hàng vẫn cần nguồn thu đủ ổn định để có phần tiền còn lại dành cho tích lũy.
Một số chỉ báo lao động năm 2025 cho thấy nền tảng nguồn lực của nữ và nam tại Việt Nam chưa giống nhau. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ là 68,6%, so với 77,3% ở nam giới; lao động làm công hưởng lương lần lượt là 41,8% và 51,3%. Ngược lại, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương ở phụ nữ là 57,1%, cao hơn 45,9% ở nam giới. Đây là dữ liệu của năm 2025, không phải biến giải thích trực tiếp cho kết quả tiết kiệm năm 2024, nên chỉ có thể dùng làm bối cảnh về vị thế kinh tế khác nhau giữa hai giới.
![]() |
| Có phương tiện thanh toán chưa đồng nghĩa mỗi người có cùng khả năng hình thành khoản tích lũy. Ảnh minh họa: Vitaly Gariev/Pexels. |
Khả năng tích lũy cũng phải tách khỏi khả năng vay. Với người kinh doanh, dữ liệu giao dịch số có thể bổ sung căn cứ xét vay, nhưng một lịch sử giao dịch tốt không tự động có nghĩa người đó đang có khoản tiền dự phòng của riêng mình. Tín dụng cho phép sử dụng nguồn vốn phải hoàn trả; tiết kiệm phản ánh một dạng nguồn lực khác và hai khâu không nên được gộp thành một chỉ số chung về “tiếp cận tài chính”.
Tương tự, sự tồn tại của các kênh vốn dành cho phụ nữ có thu nhập thấp cho biết có những công cụ hỗ trợ tiếp cận vốn, nhưng không trả lời được một phụ nữ có bao nhiêu tiền do mình kiểm soát, có khoản dự phòng cho biến cố hay có thể duy trì tiết kiệm trong bao lâu. Đây là những lớp khác nhau của an toàn tài chính.
Vì vậy, bước tiếp theo của việc đo bình đẳng giới trong tài chính số không nhất thiết là tìm thêm một con số để chứng minh bên nào “tốt hơn”. Những chỉ báo có ích hơn có thể gồm ai duy trì tài khoản hoạt động, ai có khoản tiết kiệm chính thức, quy mô và độ bền của khoản dự phòng, ai quyết định sử dụng tiền của chính mình và ai có thể xoay xở một khoản chi khẩn cấp mà không phải bán tài sản hoặc vay nợ. Các chỉ báo này cần được tách theo giới nhưng cũng phải đặt cạnh thu nhập, việc làm, học vấn và hoàn cảnh hộ gia đình.
Một tài khoản ngân hàng có thể được mở trong vài phút. Khả năng giữ lại một phần thu nhập để tích lũy lại hình thành từ nhiều điều kiện kéo dài hơn. Dữ liệu năm 2024 và nghiên cứu công bố năm 2026 chưa cho phép nói phụ nữ Việt tiết kiệm tốt hơn hay kém hơn nam giới. Chúng chỉ đủ để đặt một câu hỏi chính xác hơn: khi cánh cửa vào hệ thống tài chính đã gần ngang nhau, điều gì xảy ra với nguồn lực của nữ và nam ở những bước sâu hơn?





















Có Internet chưa đủ để phụ nữ tăng thu nhập
Dòng tiền số thêm căn cứ xét vay cho phụ nữ kinh doanh
Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo kết thúc hoạt động sau gần 20 năm
Khép lại sau 2 ngày, Ngày tài chính số 2026 thu hút 120.000 lượt người tham dự và hơn 20.000 tài khoản ngân hàng mới
Cùng chuyên mục
Ngành vận tải tăng việc làm, phụ nữ có thêm cơ hội nào?
Phụ nữ có tài khoản gần ngang nam giới, còn tích lũy thì sao?
Nông nghiệp phát thải thấp cần tiếng nói của nữ nông dân
Phụ nữ cần được tự quyết trong chăm sóc thai sản
Phụ nữ và nam giới tạm rời công việc vì những lý do khác nhau
Khi công việc theo điện thoại về nhà