![]() |
| Không gian công cộng và vị trí các dịch vụ trong đô thị ảnh hưởng trực tiếp tới những hành trình chăm sóc thường ngày của mỗi gia đình. Ảnh minh họa tại Đà Nẵng: Thái Trường Giang/Pexels. |
Một trường mầm non nằm cách nhà bao xa, người cao tuổi có thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc trong bao lâu, tuyến đường tới cơ sở y tế có thuận tiện cho người khuyết tật hay không – những câu hỏi tưởng nhỏ ấy lại có thể quyết định cách một gia đình sắp xếp cả ngày. Khi phần lớn công việc chăm sóc vẫn thường được phụ nữ đảm nhận, khoảng cách giữa nhà, nơi làm việc và các dịch vụ thiết yếu cũng trở thành một phần của câu chuyện bình đẳng giới.
Báo cáo Towards Caring Cities: A Geospatial Analysis in Viet Nam do UN Women phối hợp Data-Pop Alliance thực hiện, công bố năm 2026, đã thử nhìn bài toán này bằng dữ liệu không gian tại Đà Nẵng. Nhóm nghiên cứu lập bản đồ nhu cầu và nguồn cung dịch vụ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật, sau đó đặt chúng cạnh dữ liệu dân số, sử dụng đất và rủi ro khí hậu để nhận diện nơi nhu cầu cao nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế.
Cách tiếp cận ấy gợi ra một hướng tích cực cho bình đẳng giới: thay vì chỉ nhìn công việc chăm sóc như chuyện riêng trong mỗi gia đình, thành phố có thể biến nó thành một dữ liệu cần được tính đến khi quy hoạch. Khi nơi ở, giao thông, trường học, y tế và các dịch vụ chăm sóc được đặt trong cùng một bản đồ, những phần việc vốn rất khó nhìn thấy bắt đầu trở thành thông tin có thể sử dụng cho quyết định phát triển đô thị.
Khi bản đồ bắt đầu nhìn thấy công việc chăm sóc
Phụ nữ Mới từng đề cập lao động chăm sóc không lương và quỹ thời gian của phụ nữ. Bài toán của nghiên cứu tại Đà Nẵng đi thêm một bước: nếu công việc chăm sóc chiếm một phần đáng kể trong nhịp sống hằng ngày, thành phố có thể giảm bớt thời gian và công sức ấy bằng cách bố trí dịch vụ hợp lý hơn hay không?
Nhóm nghiên cứu sử dụng dữ liệu hành chính, dữ liệu dân số, OpenStreetMap, Google Places API và các nguồn không gian khác để xác định vị trí dịch vụ và ước lượng nhu cầu theo từng khu vực. Ghi chú phương pháp cũng thẳng thắn nêu hạn chế của dữ liệu: mức độ đầy đủ của thông tin về tọa độ, năng lực cơ sở và nhân lực không đồng đều; một số dữ liệu hành chính chỉ có cho phạm vi Đà Nẵng trước khi sắp xếp địa giới.
Chính sự minh bạch về giới hạn dữ liệu lại làm rõ một điều quan trọng. Quy hoạch có góc nhìn giới không đơn giản là thêm một cột “nam/nữ” vào bảng thống kê, mà cần xây dựng hệ dữ liệu đủ chi tiết để nhận ra người dân ở đâu, họ phải chăm sóc ai, dịch vụ nằm ở đâu và khoảng cách thực tế giữa nhu cầu với khả năng tiếp cận.
Đây cũng là phần nối tiếp tự nhiên với câu chuyện lỗ hổng dữ liệu giới. Khi một hoạt động không được đo lường, nó rất dễ đứng ngoài quá trình thiết kế chính sách. Khi được đặt lên bản đồ, công việc chăm sóc có thể trở thành một biến số của quy hoạch đô thị thay vì tiếp tục nằm ở phần “việc nhà” ít được nhìn thấy.
![]() |
| Phân tích không gian giúp nhận diện nơi nhu cầu chăm sóc và mạng lưới dịch vụ chưa gặp nhau thuận lợi. Ảnh minh họa tại Đà Nẵng: Vincent Liew/Pexels. |
Một khoảng cách 15 phút cũng nói nhiều về cơ hội
Phân tích về dịch vụ chăm sóc trẻ em tại Đà Nẵng cho thấy sự khác biệt khá rõ giữa các khu vực. Ở lõi đô thị và dải đô thị ven biển, mạng lưới đường giúp phần lớn khu vực nằm trong vùng tiếp cận dịch vụ khoảng 15 phút. Trong khi đó, ở các vùng nông thôn phía tây, mật độ đường thấp hơn và khoảng cách xa hơn khiến thời gian di chuyển thường vượt ngưỡng này.
Báo cáo còn so sánh tỷ lệ trẻ em với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cùng mật độ cơ sở chăm sóc trẻ. Kết quả cho thấy nhiều xã ở khu vực nội địa, phía tây và một phần ven biển phía nam nằm trong nhóm có nhu cầu tương đối cao nhưng nguồn cung dịch vụ thấp; chỉ một số khu vực phía bắc ven biển có sự cân đối tốt hơn. Đây là phân tích ở cấp không gian và không nên hiểu thành đánh giá chất lượng của từng cơ sở cụ thể.
Từ góc nhìn giới, giá trị của con số 15 phút nằm ở thời gian mà một gia đình phải bỏ ra mỗi ngày. Nếu nơi gửi trẻ nằm gần nhà hoặc trên tuyến đường thuận tiện tới nơi làm việc, một hành trình chăm sóc có thể được rút ngắn. Nếu mỗi lần đưa đón lại đòi hỏi thêm nhiều chặng đường, thời gian ấy được cộng dồn vào lịch làm việc, nghỉ ngơi và học tập của người chăm sóc.
Một thành phố phục vụ phụ nữ tốt hơn vì vậy chưa chắc phải bắt đầu bằng một công trình lớn. Đôi khi, thay đổi có thể đến từ việc nhìn đúng nơi cần thêm nhà trẻ, điểm chăm sóc người cao tuổi, tuyến xe buýt hay lối đi bộ kết nối các dịch vụ vốn đã tồn tại.
Chăm sóc người già, người khuyết tật cũng là bài toán đô thị
Nghiên cứu không dừng ở trẻ nhỏ. Với dịch vụ dành cho người khuyết tật, báo cáo ghi nhận phần lớn hoạt động chăm sóc ở Đà Nẵng vẫn dựa vào gia đình, hệ thống y tế công và một số cơ sở trợ giúp xã hội; khả năng tiếp cận dịch vụ chuyên biệt giữa các khu vực còn khác nhau. Báo cáo dẫn dữ liệu đến cuối năm 2024 cho thấy 41.093 người khuyết tật đã được sàng lọc, 4.768 người được phục hồi chức năng và 610 người được hỗ trợ thông qua các can thiệp dựa vào cộng đồng.
Điểm đáng lưu ý là nhóm nghiên cứu không tách câu chuyện khuyết tật khỏi giới. Khi dịch vụ chuyên môn còn xa hoặc thiếu, phần việc chăm sóc thường quay trở lại gia đình và báo cáo nhận định phụ nữ là nhóm đảm nhiệm phần lớn công việc chăm sóc không lương này. Vì vậy, đầu tư cho dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật cũng có thể đồng thời tạo thêm thời gian và khả năng tham gia kinh tế, học tập, xã hội cho người chăm sóc.
Cách nhìn này làm thay đổi khái niệm về “hạ tầng đô thị”. Hạ tầng không chỉ là đường, cầu hay tòa nhà, mà còn gồm những hệ thống giúp một người mẹ gửi con, một gia đình chăm sóc người cao tuổi hoặc một người khuyết tật tiếp cận dịch vụ cần thiết mà không phải vượt qua quá nhiều khoảng cách.
![]() |
| Khả năng đi lại độc lập của người cao tuổi phụ thuộc nhiều vào cách không gian đô thị và dịch vụ được thiết kế. Ảnh minh họa tại Việt Nam: Sóc Năng Động/Pexels. |
Dữ liệu cần đi cùng kinh nghiệm của phụ nữ địa phương
Một điểm đáng chú ý trong quá trình thực hiện nghiên cứu là sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Đà Nẵng cùng nhiều cơ quan, tổ chức và đại diện cộng đồng địa phương. Báo cáo cho biết các bên đã tham gia hội thảo kiểm chứng kết quả, góp ý và cùng phát triển các khuyến nghị để phân tích không chỉ dựa trên bản đồ mà còn phản ánh những nhu cầu chăm sóc trong đời sống thực. Một trong các tác giả của báo cáo cũng là Trần Thị Thúy Anh thuộc UN Women.
Đây là điểm có ý nghĩa với cách làm nghiên cứu về giới. Dữ liệu vệ tinh hay bản đồ số có thể chỉ ra một nơi thiếu dịch vụ, nhưng người đang trực tiếp chăm sóc mới hiểu một con đường khó đi vào giờ nào, một cơ sở tuy gần nhưng có phù hợp hay không, hoặc những nhóm nào ít có khả năng tiếp cận nhất.
Nữ trí thức và chuyên gia đô thị cũng có vai trò ở chính khoảng giao nhau giữa dữ liệu, thiết kế và trải nghiệm người dùng. Tại Việt Nam, PGS.TS Trịnh Tú Anh hiện là Viện trưởng Viện Đô thị Thông minh và Quản lý, Trường Công nghệ và Thiết kế thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM; đơn vị này xác định nghiên cứu, thiết kế và quản lý đô thị theo hướng “suy nghĩ toàn cầu – hành động địa phương”, đồng thời phát triển các phòng thí nghiệm đô thị và hoạt động nghiên cứu về di chuyển thông minh, phát triển bền vững.
PGS.TS Trịnh Tú Anh không tham gia báo cáo của UN Women tại Đà Nẵng, vì vậy hai câu chuyện cần được tách bạch. Điểm gặp nhau nằm ở cách nhìn về năng lực của nữ chuyên gia: phụ nữ không chỉ là nhóm được khảo sát trong quy hoạch đô thị, họ còn có thể là người xây dựng phương pháp, phân tích dữ liệu, thiết kế giải pháp và tham gia quyết định thành phố sẽ vận hành ra sao.
Bản đồ chăm sóc tại Đà Nẵng đang đo những gì?
Báo cáo Towards Caring Cities: A Geospatial Analysis in Viet Nam sử dụng dữ liệu dân số, dữ liệu hành chính, OpenStreetMap, Google Places API, sử dụng đất và thông tin rủi ro khí hậu để phân tích nhu cầu và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc tại Đà Nẵng. Ba nhóm chính gồm chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật. Với dịch vụ trẻ em, nghiên cứu sử dụng vùng tiếp cận khoảng 15 phút để nhận diện khác biệt không gian; kết quả cho thấy lõi đô thị có khả năng tiếp cận thuận lợi hơn nhiều khu vực nông thôn phía tây. Nhóm tác giả đồng thời nêu rõ giới hạn dữ liệu, trong đó một số bộ dữ liệu hành chính chưa có đầy đủ tọa độ, năng lực cơ sở hoặc chỉ bao phủ phạm vi Đà Nẵng trước sắp xếp địa giới.
Một đô thị chăm sóc cũng phải tính đến khí hậu
Nhóm nghiên cứu còn đặt bản đồ dịch vụ chăm sóc cạnh rủi ro khí hậu. Đà Nẵng thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, ngập lụt và bão; khi hạ tầng giao thông, điện, nước hoặc cơ sở chăm sóc bị gián đoạn, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật có thể cần hỗ trợ nhiều hơn đúng vào lúc khả năng tiếp cận dịch vụ giảm xuống.
Điều này khiến quy hoạch chăm sóc và quy hoạch thích ứng khí hậu trở thành hai bài toán có thể hỗ trợ lẫn nhau. Một nhà trẻ ở khu vực có nguy cơ ngập cao, một trung tâm chăm sóc người cao tuổi nằm trên tuyến giao thông thường bị chia cắt hay một cơ sở phục hồi chức năng thiếu phương án tiếp cận khi thiên tai đều là những yếu tố cần được nhìn trên cùng một bản đồ.
Với phụ nữ, ý nghĩa nằm ở việc thành phố có thể giảm bớt những tình huống mà trách nhiệm ứng phó bị đẩy hoàn toàn về hộ gia đình. Dịch vụ được bố trí tốt, kết nối giao thông thuận tiện và có phương án duy trì khi thời tiết cực đoan không chỉ làm thành phố bền vững hơn mà còn giúp công việc chăm sóc được chia sẻ bằng hạ tầng và dịch vụ công.
![]() |
| Một đô thị dễ đi lại và dễ tiếp cận dịch vụ giúp các thế hệ sử dụng không gian chung thuận tiện hơn. Ảnh minh họa tại Đà Nẵng: Thái Trường Giang/Pexels. |
Khi quy hoạch gần với nhịp sống hơn
Khái niệm “đô thị chăm sóc” có thể nghe khá mới, nhưng logic phía sau lại rất đời thường. Con người đi làm, đưa trẻ tới trường, đưa cha mẹ đi khám, mua thực phẩm, sử dụng công viên, đi bộ đến trạm xe buýt và quay về nhà. Nếu quy hoạch chỉ nhìn những hành trình đi từ nhà tới nơi làm việc mà bỏ qua các chặng chăm sóc xen giữa, thành phố sẽ không phản ánh đầy đủ nhịp sống của nhiều người.
Báo cáo của UN Women và Data-Pop Alliance vì thế không đưa ra một mô hình cố định để mọi đô thị sao chép. Giá trị nổi bật hơn là phương pháp: dùng dữ liệu không gian để xác định nhu cầu, kiểm chứng bằng tri thức địa phương rồi đưa chăm sóc vào quy hoạch, ngân sách và đầu tư đô thị.
Phụ nữ Mới từng ghi nhận quan điểm rằng đô thị thông minh cần đặt con người ở trung tâm. Góc nhìn về “đô thị chăm sóc” bổ sung thêm một câu hỏi rất cụ thể cho nguyên tắc ấy: thành phố có hiểu những khoảng thời gian con người dành để chăm sóc nhau hay không?
Bình đẳng giới trong đô thị vì vậy không nhất thiết phải xuất hiện dưới hình thức một công trình mang tên phụ nữ. Nó có thể nằm trong khoảng cách từ nhà tới trường mầm non, trong vỉa hè người cao tuổi có thể sử dụng, trong tuyến xe đưa người khuyết tật tới dịch vụ và trong dữ liệu giúp nhà quy hoạch nhìn thấy những hành trình ấy.
Khi phụ nữ, chuyên gia và cộng đồng cùng tham gia tạo ra dữ liệu và thiết kế giải pháp, đô thị không chỉ trở nên thuận tiện hơn cho một giới. Nó có cơ hội phục vụ tốt hơn trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người chăm sóc và cuối cùng là chính cộng đồng đang sống trong đó.
Nguồn box: UN Women và Data-Pop Alliance, Towards Caring Cities: A Geospatial Analysis in Viet Nam, 2026.






















Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Phụ nữ vô hình: lỗ hổng dữ liệu giới
PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân: Phụ nữ trí thức là người kiến tạo giá trị mềm, lan tỏa lối sống xanh
Thúc đẩy đô thị thông minh từ hợp tác Việt - Hàn
Cùng chuyên mục
Dữ liệu chăm sóc giúp quy hoạch đô thị sát đời sống phụ nữ
Nữ trí thức góp tiếng nói để tiêu chuẩn kỹ thuật sát đời sống
Mạng lưới cố vấn tiếp sức cho nữ nghiên cứu trẻ trong khoa học
Công nghệ trợ giúp tốt hơn khi phụ nữ cùng tham gia thiết kế
Khoảng cách tiền lương đẩy phụ nữ vào bất lợi nghề nghiệp
Phụ nữ vẫn đứng ngoài nhiều vị trí ra quyết định toàn cầu