![]() |
| Thủ tướng Phạm Minh Chính; bà Nguyễn Thị Doan, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam và bà Lê Thị Thủy, Bí thư Đảng ủy TW Hội LHPN Việt Nam trao tặng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS. Trần Thị Việt Nga. Ảnh: TTXVN |
Tháng 3/2026, GS.TS Trần Thị Việt Nga, giảng viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, vinh dự nhận Giải thưởng Kovalevskaia, giải thưởng uy tín dành cho các nhà khoa học nữ xuất sắc. Với bà, đây không chỉ là một danh hiệu, mà là dấu mốc khép lại gần 30 năm theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học.
Là nữ giáo sư duy nhất của ngành Xây dựng được phong hàm từ năm 2014 đến nay, bà kiên trì theo đuổi lĩnh vực kỹ thuật cấp thoát nước một ngành vốn thầm lặng nhưng có tác động trực tiếp tới môi trường và chất lượng sống đô thị. Hướng nghiên cứu xuyên suốt của bà tập trung vào công nghệ xử lý nước, nước thải và quản lý tài nguyên nước theo hướng bền vững, gắn với các bài toán an ninh năng lượng và thích ứng biến đổi khí hậu.
Sinh năm1974, con đường đến với khoa học của GS.TS Nga bắt đầu từ gia đình. Bà là con của GS.TSKH Trần Hữu Uyển, một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học thuật và niềm say mê nghiên cứu từ cha, năm 1991, nữ sinh chuyên Hóa Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam quyết định theo học Đại học Xây dựng Hà Nội.
Tại đây, bà nhận ra ngành cấp thoát nước không chỉ là những công thức kỹ thuật khô cứng, mà là lĩnh vực giao thoa giữa khoa học kỹ thuật và các vấn đề xã hội, đòi hỏi tư duy hệ thống và cách tiếp cận đa chiều. Nền tảng chuyên Hóa giúp bà nhanh chóng nắm bắt các quá trình hóa sinh trong xử lý nước, từ đó càng thêm gắn bó với ngành học.
Sau khi tốt nghiệp xuất sắc năm 1996, bà tiếp tục học thạc sĩ tại Thái Lan, rồi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Đại học Tokyo. Dù từng nhận không ít lời khuyên về sự vất vả của ngành kỹ thuật đối với phụ nữ, bà vẫn lựa chọn theo đuổi đến cùng. Đối với GS.TS Trần Thị Việt Nga “khó khăn là điều bình thường, thậm chí là động lực để mình nỗ lực hơn”,.
Sau tiến sĩ, bà tiếp tục nghiên cứu tại Đại học Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững, trước khi trở về Việt Nam và dấn thân vào các bài toán thực tiễn của đô thị.
![]() |
| GS.TS Trần Thị Việt Nga. Ảnh: Trường ĐH Xây dựng Hà Nội. |
Trong gần ba thập kỷ, GS. TS Nga đã tham gia và chủ trì 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó có 2 đề tài cấp Nhà nước và 6 đề tài cấp Bộ. Bà hiện đang dẫn dắt dự án SATREPS sử dụng vốn ODA của Nhật Bản nhằm phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm tại Việt Nam.
Một trong những dấu ấn quan trọng trong nghiên cứu của bà là việc tiên phong làm chủ công nghệ màng lọc kỵ khí (AnMBR). Đây là công nghệ kết hợp giữa xử lý sinh học kỵ khí và màng vi lọc, cho phép không chỉ làm sạch nước thải mà còn mở ra khả năng tái sử dụng nước và thu hồi năng lượng dưới dạng khí sinh học.
Theo GS.TS Trần Thị Việt Nga, hàm lượng methane trong khí sinh học thu được có thể đạt tới 80%, đồng thời công nghệ còn có tiềm năng thu hồi các chất dinh dưỡng như nitơ, phốt-pho để tái sử dụng trong sản xuất. Những hướng tiếp cận này cho thấy xu hướng mới của ngành nước: không chỉ xử lý chất thải mà còn khai thác tài nguyên từ chính dòng thải.
Song song với đó, bà và cộng sự cũng nghiên cứu tận dụng vật liệu phế thải như bê tông vụn, gạch, bê tông khí chưng áp hay than sinh học làm vật liệu lọc, góp phần giảm chi phí và tăng tính bền vững.
Ở quy mô đô thị, nhóm nghiên cứu của bà tham gia đề xuất giải pháp phục hồi các dòng sông nội đô Hà Nội như sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu. Cách tiếp cận không chỉ dừng ở xử lý nước thải, mà còn xem xét tổng thể lưu vực, bao gồm nước mặt, nước ngầm, nước mưa và dòng thải sau xử lý, nhằm kiểm soát ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái.
GS.TS Trần Thị Việt Nga cho biết thách thức lớn nhất của khoa học không nằm ở việc tạo ra công nghệ, mà là đưa công nghệ đó vào cuộc sống. Quá trình này đòi hỏi không chỉ nỗ lực của nhà khoa học mà còn cần sự phối hợp của doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cả cộng đồng.
Theo Bà cho thì hiện nay, nhiều công nghệ xử lý nước tiên tiến đã được phát triển trong nước, nhưng vẫn thiếu cơ chế hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp như tài chính cho các mô hình thử nghiệm, hành lang pháp lý cho thử nghiệm công nghệ mới, cũng như hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp.
Ngoài ra, việc chia sẻ rủi ro giữa các bên liên quan còn hạn chế, khiến doanh nghiệp và đơn vị vận hành còn dè dặt trong việc áp dụng công nghệ mới. Tuy nhiên, bà nhìn nhận đây không phải là rào cản không thể vượt qua, khi xu hướng nghiên cứu hiện nay ngày càng bám sát nhu cầu thực tiễn. “Khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và công trình thực tế đang dần được thu hẹp, nhưng cần thêm thời gian và sự chung tay của nhiều bên”, bà nhận định.
Nhìn lại chặng đường đã qua, đối với GS. TS Trần Thị Việt Nga mỗi thành tựu nghiên cứu đều là kết quả của quá trình thử nghiệm bền bỉ, với không ít lần thất bại. Chính những lần “làm lại từ đầu” đã giúp bà tích lũy kinh nghiệm và củng cố niềm tin để tiếp tục theo đuổi mục tiêu.
Với bà, khoa học không phải là hành trình của cá nhân, mà là sự cộng hưởng trí tuệ của tập thể. Giải thưởng Kovalevskaia vì thế mang ý nghĩa ghi nhận không chỉ cho cá nhân bà, mà cho cả nhóm nghiên cứu đã đồng hành trong suốt nhiều năm.
Ở góc độ cá nhân, bà cũng nhìn nhận phụ nữ có những lợi thế riêng trong nghiên cứu khoa học, như khả năng phối hợp, sự kiên trì và góc nhìn thấu cảm. Dù phải đối mặt với áp lực cân bằng giữa công việc và gia đình, bà cho rằng nếu biết sắp xếp hợp lý, đây không phải là trở ngại mà còn là nguồn động lực.
“Được làm công việc mình yêu thích là một may mắn. Nghiên cứu có thể gian nan, nhưng rất thú vị. Nếu đủ đam mê, mọi khó khăn đều có thể vượt qua”, bà chia sẻ.
Trong thời gian tới, GS.TS Trần Thị Việt Nga dự định tiếp tục đào sâu nghiên cứu về công nghệ màng trong xử lý nước thải, hướng tới giải quyết những vấn đề mà phương pháp truyền thống chưa thể đáp ứng.
Với bà, khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần giải quyết những vấn đề của xã hội từ những dòng sông ô nhiễm đến hệ thống hạ tầng môi trường đang vận hành mỗi ngày. Và đó cũng là con đường mà nữ giáo sư ngành nước vẫn đang bền bỉ theo đuổi.



















Chính phủ ban hành cơ chế mới thu hút nhà khoa học nước ngoài và kiều bào
Giải thưởng Kovalevskaia 2025 vinh danh một tập thể và một nhà khoa học nữ xuất sắc
Những nhà khoa học nữ tuổi Ngọ truyền cảm hứng
Tư duy chiến lược mới trong Báo cáo trình Đại hội XIV của Đảng: Niềm tin và kỳ vọng của đội ngũ nhà khoa học nữ
Lấy ý kiến Nghị định về Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, trong đó có cơ chế ưu tiên nhà khoa học nữ
Tỷ lệ nhà khoa học nữ tiệm cận 40% trong 7 công trình khoa học xuất sắc năm 2025 của Viện Hàn lâm
Cùng chuyên mục
Nữ giáo sư ngành nước và hành trình đưa khoa học ra khỏi phòng thí nghiệm
PGS.TS.BS. Tạ Thị Diệu Ngân: Kiên trì theo đuổi những vấn đề cấp thiết của y học cộng đồng
Chuyện về nữ khoa học gia kiếm tìm sự sống nơi biên thùy băng giá của Trái đất
TS Vũ Thị Tần: Khi khoa học đi ra khỏi phòng thí nghiệm để bước vào đời sống
Từ câu hỏi “cầm máu tức thì”, nữ khoa học Việt tạo đột phá với keo sinh học chữa lành vết thương
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy: Người "truyền lửa" ngôn ngữ và bản lĩnh trí thức thời hội nhập