Giá nước sạch cao nhất là 18.000 đồng/m3

Theo dự thảo mới của Bộ Tài chính, giá nước sạch khu vực đô thị và khu công nghiệp cao nhất là 18.000 đồng/khối, thấp nhất là 3.000 đồng/m3.

Giá nước sạch đang được quy định tại Thông tư liên tịch số 75/2012/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT của liên Bộ Tài chính - Xây dựng - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Thông tư số 75).

Theo Bộ Tài chính, sau 8 năm thực hiện, hoạt động sản xuất, kinh doanh nước sạch đã có nhiều thay đổi, điều kiện sản xuất kinh doanh, định hướng quản lý giá của nhà nước cũng có nhiều điểm mới. Do vậy, Bộ Tài chính dự thảo sửa đổi, bổ sung Thông tư 75, tạo điều kiện cho các đơn vị cấp nước, cơ quan quản lý thực hiện thuận lợi, đảm bảo quyền lợi của khách hàng sử dụng nước.

Trong dự thảo, Bộ Tài chính quy định khung giá nước sạch sinh hoạt áp dụng cho bán buôn và bán lẻ (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) như sau:

Đối với hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh khu vực đô thị và khu công nghiệp, giá nước thấp nhất là 3.000 đồng và cao nhất 18.000 đồng/m3.

Đối với hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh khu vực nông thôn, giá nước thấp nhất là 2.000 đồng và cao nhất là 11.000 đồng/m3.

Ngoài ra, các công trình cấp nước phi tập trung, công trình cấp nước nhỏ lẻ, công trình cấp nước tự chảy có giá nước thấp nhất là 500 đồng/m3, cao nhất là 7.000 đồng/m3.

Theo dự thảo của Bộ Tài chính, giá nước mới cao nhất là 18.000 đồng/m3. Ảnh minh họa
Theo dự thảo của Bộ Tài chính, giá nước mới cao nhất là 18.000 đồng/m3. Ảnh minh họa

Các trường hợp đặc thù như vùng nước ngập mặn, vùng ven biển, vùng có điều kiện sản xuất nước khó khăn, khung giá nước sạch sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào tình hình thực tế, để quyết định.

Dự thảo cũng nêu rõ các nguyên tắc xác định giá bán nước sạch . Cụ thể, giá phải được tính đúng, đủ các yếu tố chi phí sản xuất hợp lý, hợp lệ, giá thành toàn bộ trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ (bao gồm cả chi phí duy trì đấu nối).

Trên cơ sở nguyên tắc trên, các đơn vị cấp nước bán lẻ cho cả mục đích sinh hoạt và mục đích ngoài sinh hoạt có thể tự quyết định giá nước sạch cho mục đích ngoài sinh hoạt, đảm bảo cơ chế bù giá giữa các nhóm khách hàng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Dự thảo cũng quy định giá bán nước sạch của đơn vị cấp nước cho mục đích sinh hoạt hoặc cho cả mục đích sinh hoạt và mục đích khác được xem xét điều chỉnh tối đa mỗi năm một lần.

Giá nước sạch của đơn vị chỉ cấp nước cho mục đích khác ngoài sinh hoạt sẽ do đơn vị cấp nước quyết định, trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng sử dụng nước.

NHẬT SANG