Góp ý dự thảo văn kiện đại hội Đảng: Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đối với lĩnh vực đại học

Với một số ý kiến, quan điểm từ góc nhìn thực tế của một nhà giáo, nhà nghiên cứu, một cán bộ quản lý giáo dục đại học về nền giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Việt Nam, GS.TS Lê Minh Thắng đã có những góp ý thiết thực trong việc hoàn thiện dự thảo văn kiện đại hội của Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa xii tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ xiii của Đảng đã nêu rõ kết quả thực hiện nghị quyết đại hội XII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổi mới với những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, khuyết điểm. Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII cũng nêu lên tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Tham luận này mong muốn đưa ra một số quan điểm cá nhân về báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết đại hội XII, và đặc biệt là định hướng nhiệm vụ giải pháp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đối với lĩnh vực đại học.

Thành tựu đạt được

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ kết quả thực hiện nghị quyết đại hội XIII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổi mới trong đó chỉ ra những thành tựu đạt được trong giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển, một số điểm nổi bật cụ thể là chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển khai, bước đầu có hiệu quả; phương pháp giảng dạy và học tập có bước đổi mới; công tác thi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực chất, hiệu quả hơn. Quản lý, quản trị đại học có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Chi đầu tư cho giáo dục và xã hội hoá giáo dục được tăng cường. Cơ chế, chính sách tài chính cho giáo dục và đào tạo từng bước đổi mới. Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo được thể chế hoá và đạt kết quả bước đầu. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng.

Khoa học và công nghệ từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội. Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được tăng cường. Hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi nghiệp sáng tạo. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có bước đổi mới. Một số cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý khoa học và công nghệ bước đầu phát huy tác dụng, nhất là cơ chế, chính sách quản lý nguồn vốn đầu tư, tài chính.

Đây là những đánh giá có cơ sở, có thể nhìn thấy trong các hoạt động giáo dục và đào tạo và khoa học và công nghệ tại các trường đại học Việt Nam trong thời gian gần đây. Báo cáo chính trị đã nhìn nhận đầy đủ, đúng mực về các thành tựu. Tuy nhiên, như cũng đã được nhận thức trong báo cáo, những thành tựu này mới chỉ là bước đầu, còn chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của các trường đại học, viện nghiên cứu và các cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học trong cả nước.

GS.TS Lê Minh Thắng-Trường đại học Bách khoa Hà Nội
GS.TS Lê Minh Thắng-Trường đại học Bách khoa Hà Nội

 Những điểm còn hạn chế

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã nêu lên những điểm còn hạn chế trong kết quả thực hiện nghị quyết đại hội xii về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Cụ thể, đổi mới tư duy và hoạt động giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra; một số nhiệm vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn định. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao. Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa bảo đảm tính đồng bộ và liên thông giữa các trình độ, các phương thức giáo dục và đào tạo. Nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo vẫn thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động. Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học. Giáo dục “làm người”, đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ. Quản lý nhà nước và quản lý - quản trị nhà trường còn nhiều hạn chế.

Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ còn hạn chế, thiếu thể chế về tài chính, chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao; thiếu giải pháp đồng bộ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nặng về hành chính hoá, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài. Đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao, chưa xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có chính sách hợp lý về vay vốn, thuế, hỗ trợ phát triển, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Hệ thống thông tin, thống kê khoa học và công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ việc xây dựng các chiến lược, chính sách. Bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa đạt yêu cầu; chưa gắn kết chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên, khoa học - công nghệ và khoa học xã hội - nhân văn, khoa học lý luận chính trị để phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Những nhận định này cũng là những nhận định xác đáng, phản ánh đúng hiện trạng thực tế của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ của đất nước, chứng tỏ dự thảo báo cáo đã trung thực, khách quan, không tô hồng thực tế, không né tránh những tồn tại trong các hoạt động. Tuy nhiên, những hạn chế yếu kém cần được phân tích sâu hơn, gắn trong việc phân tích những nguyên nhân thì việc đưa ra định hướng nhiệm vụ giải pháp mới có cơ sở và khả thi.

Định hướng phát triển

Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương đảng khóa xii tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ xiii của đảng trên cơ sở nêu ra những thành tựu và những hạn chế đã đã định hướng giai đoạn 2021 - 2030 là tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng để bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người:

  • Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.
  • Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Đẩy mạnh tự chủ đại học. Có chính sách đột phá phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.
  • Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của Việt Nam trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội và các giá trị cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh. Cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, cần đổi mới mạnh mẽ chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt. Sắp xếp, đổi mới căn bản hệ thống các cơ sở đào tạo sư phạm, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. 
  • Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế để nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo đúng hướng, hợp lý. Đầu tư thích đáng cho giáo dục và đào tạo chất lượng cao, trình độ cao; từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục và đào tạo. Hoàn thiện và thực hiện ổn định các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo, thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo. Phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế.

Về thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ:

  • Tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và phát triển con người Việt Nam.
  • Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ. Nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc làm mục tiêu. Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ. Tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân. Hỗ trợ, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Chuyển đổi cơ chế đầu tư, quản lý tài chính khoa học và công nghệ theo nguyên tắc đặt hàng, dựa vào kết quả, hiệu quả cuối cùng.
  • Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước. Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trọng yếu. Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn. Tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, thực hiện tốt các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tiếp tục phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hỗ trợ thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng và sở hữu trí tuệ, thông tin, thống kê khoa học và công nghệ. 
  • Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Đa dạng hoá hợp tác quốc tế, ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược. Gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh. Có chính sách hỗ trợ hoạt động giao lưu, trao đổi học thuật quốc tế. 

Nhìn chung các định hướng phát triển này là đúng đắn, khẳng định Đảng và nhà nước luôn coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Tuy trong phạm vi một báo cáo chính trị về tất cả mọi mặt kinh tế xã hội của đất nước, không thể đưa hết các định hướng phát triển cụ thể nhưng dự thảo báo cáo còn thể hiện những định hướng chung chung, một số định hướng chủ đạo được nhấn mạnh nhưng còn lặp lại, trùng lắp. Một số định hướng chủ đạo lại cần được nhấn mạnh, cụ thể hơn như việc đẩy mạnh tự chủ đại học, thay đổi cơ chế quản trị trong trường đại học, tập trung vào nâng cao cao vai trò của hội đồng trường và đổi mới cơ chế, phương thức quản trị tài chính.

Chính sách đột phá, phát triển nâng cao chất lượng giáo dục đại học cần được làm rõ hơn, trong đó không thể tách rời việc cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục bậc phổ thông nhằm tăng khả năng chủ động suy nghĩ, độc lập tư duy và sự sáng tạo của học sinh phổ thông nhằm làm tiền đề cho năng lực của sinh viên ở bậc đại học. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học cần gắn liền với đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường thực hành, thực tập, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và công nghiệp nhưng phải đảm bảo những nền tảng kiến thức cơ bản và năng lực tự tư duy, tự học tập. Việc khảo sát, xác định cơ cấu phân bố ngành nghề trong xã hội là cấp thiết để định hướng việc lựa chọn ngành nghề của sinh viên đại học, trong đó, cần xác định những ngành nghề cần thiết cho sự phát triển của xã hội nhưng đang có mức thu nhập thấp và vất vả để có chính sách đặt hàng đào tạo hợp lý, đảm bảo không bị thiếu cơ cấu nguồn nhân lực cho tương lai.

Đổi mới chính sách lương và đãi ngộ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải được đưa thành giải pháp then chốt để giải quyết các tồn tại về giáo dục và đào tạo. Đi kèm với nâng lương và đãi ngộ cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục để đảm bảo cuộc sống đầy đủ và có tích lũy cho họ cần đi đôi với việc thắt chặt những quy định quản lý giáo dục như không dậy thêm, học thêm mà thay vào đó là bồi dưỡng miễn phí học sinh chậm tiếp thu và bồi dưỡng tăng cường nâng cao cho học sinh giỏi, tài năng được chọn lọc; xóa bỏ bệnh thành tích, loại bỏ tận gốc tiêu cực trong giáo dục và thi cử. Cơ cấu vị trí việc làm cần được xác định một cách đầy đủ và thực tế để đảm bảo chi thường xuyên của nhà nước vẫn phải cấp cho các hoạt động thiết yếu của trường đại học, đồng thời với việc đầu tư có trọng điểm nhằm tăng cường cơ sở vật chất đào tạo và thực hành.

Cần sớm có chính sách học bổng nhà nước phù hợp cho sinh viên sau đại học (thạc sỹ và nghiên cứu sinh) để đội ngũ này sau khi tốt nghiệp đại học có thể coi việc học sau đại học là một việc làm có thu nhập đủ cho một người đã tốt nghiệp. Có như vậy mới có thể nâng cao chất lượng và số lượng sinh viên sau đại học, mới xây dựng được những trường đại học nghiên cứu thực sự.

Việc tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là cấp bách nhưng cần thực hiện song song với việc đổi mới quản trị trong trường đại học, minh bạch và công khai tài chính, nhưng phải giảm thiểu thủ tục hành chính và sự cứng nhắc trong thanh toán tài chính, đánh giá chủ yếu thông qua kết quả và sản phẩm cuối cùng. Trong đầu tư cho khoa học công nghệ, cần đẩy mạnh nguồn đầu tư từ doanh nghiệp được quy định bởi luật khoa học công nghệ là 5% tổng doanh thu cho nghiên cứu phát triển. Cần có quy định rõ hơn và linh hoạt hơn về việc sử dụng khoản chi này cho nghiên cứu phát triển, đặc biệt là thông qua các hợp đồng nghiên cứu với các trường đại học để giải quyết không phải chỉ là vấn đề trước mắt mà còn là các vấn đề có tính thăm dò, khảo sát phục vụ sự phát triển khoa học và công nghệ dài hạn, tầm nhìn xa của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy mới có thể hướng tới sự phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp, giúp giải quyết thực trạng công nghiệp Việt Nam chủ yếu là gia công, chế biến, không có nghiên cứu phát triển. Đồng thời mới gắn được đào tạo đại học, nghiên cứu khoa học với thực tế sản xuất, kinh doanh. Phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn nhưng không được bỏ quên những ngành khoa học công nghệ truyền thống thiết yếu, phân bố đồng đều giữa nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu khoa học ứng dụng, lấy nghiên cứu khoa học cơ bản làm nền tảng, gốc rễ để phát triển khoa học ứng dụng, không được tách rời.

Việc thúc đẩy thương mai hóa các kết quả nghiên cứu và sáng tạo khởi nghiệp là cần thiết nhưng cần đi vào thực chất và chiều sâu, tiết giảm hợp lý những hoạt động có tính phong trào và những đầu tư lãng phí, kém hiệu quả. Thúc đẩy sở hữu trí tuệ theo chiều hướng phông phân biệt với thế giới để tăng giá trị của các bằng sở hữu trí tuệ, được thừa nhận cả trong môi trường quốc tế. Việc hợp tác quốc tế phải được chú trọng nhưng thông qua những hoạt động chuyên môn thực chất như cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ quốc tế, hỗ trợ công bố các công bố quốc tế, tài trợ nhà khoa học xuất sắc và nhà khoa học trẻ tham gia các hội thảo, các diễn đàn quốc tế lớn để thúc đẩy giao lưu khoa học và hội nhập quốc tế.

Với một số ý kiến, quan điểm từ góc nhìn thực tế của một nhà giáo, nhà nghiên cứu, một cán bộ quản lý giáo dục đại học về nền giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Việt Nam, hy vọng tham luận này sẽ góp phần đóng góp vào việc hoàn thiện dự thảo văn kiện đại hội của Ban chấp hành Trung ương đảng khóa xii tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ xiii của Đảng.

GS.TS Lê Minh Thắng-Trường đại học Bách khoa Hà Nội

Hoạt động tiêu biểu của Hội Nữ trí thức Việt Nam tháng 11/2020

Hoạt động tiêu biểu của Hội Nữ trí thức Việt Nam tháng 11/2020

Trong tháng 11/2020, Hội Nữ trí thức Việt Nam tập trung triển khai, thực hiện một số hoạt động trọng tâm như: